Giới thiệu "niên đại đức Phật lịch sử" vấn đề còn đang tranh luận

Ban TT-TT Hệ phái 14/12/2014, 22:00

Heinz Bechert-When did the Buddha liveLời người dịch: Đây là bài nhận định tổng hợp của giáo sư Heinz Bechert, tóm tắt 21 bài viết đăng trong tuyển tập When Did the Buddha Live? được chính giáo sư làm tổng biên tập. Bài tóm tắt vô cùng công phu này đã đặt lại các vấn đề biên niên sử Tích Lan, Ấn Độ và các nước Phật giáo có liên hệ về cách tính niên đại của đức Phật, chẳng hạn như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Qua bài viết, tác giả cho chúng ta thấy hàng trăm học thuyết khác nhau về niên đại của đức Phật, trong đó có cả trường hợp bịa đặt về biên niên kỷ cũng như cách cấu trúc về các niên đại đồng thời giữa hai nước nào đó thật thiếu logic và khó chấp nhận. Mặc dầu không chấp nhận niên đại truyền thống của Tích Lan về năm 624 trước TL như là năm đản sinh của đức Phật, tác giả cho thấy phần lớn các nhà nghiên cứu đều đồng ý cho rằng ngày đản sinh của đức Phật có thể trước hoặc sau năm 560 trước TL vài năm. Trong khi các học giả cố gắng truy nguyên niên đại của đức Phật lịch sử, họ đã đưa ra quá nhiều học thuyết khác nhau đến độ mâu thuẫn và loại trừ lẫn nhau. Đó cũng chính là lý do làm cho học thuyết về niên đại của đức Phật của các trường phái Phật giáo dựa trên các biên niên sử của mình vẫn còn lý do để tồn tại và thách thức các giới hạn tri thức về lịch sử của con người.

Nội dung của bài nhận định tổng hợp này gồm 8 phần sau: 1) Niên đại của đức Phật - một vấn đề chưa giải quyết; 2) Điểm lại lịch sử nghiên cứu đề tài; 3) Bằng chứng rút ra từ bối cảnh lịch sử văn hoá Ấn Độ; 4) Các đánh giá khác nhau về cứ liệu; 5) Nguồn gốc và phát triển các biên niên đại đức Phật truyền thống; 6) Thuyết thiên niên kỷ trong các truyền thống Phật giáo; 7) Niên đại của đức Phật theo cách tính dựa vào niên đại lịch sử; và 8) Kết luận.

Chữ viết tắt: TK: thế kỷ; TTL: trước Tây lịch; Symp: Tập Hội Thảo Chuyên Đề. 

 

NIÊN ĐẠI CỦA ĐỨC PHẬT – MỘT VẤN ĐỀ CHƯA GIẢI QUYẾT?

Chưa có tài liệu nào về niên đại của đức Phật lịch sử, vị sáng lập đạo Phật, được truyền thừa nhất quán trong các tông phái chính của Phật giáo cũng như được các học giả cùng công nhận. Các học giả cũng chưa đi đến một kết luận thống nhất nào về vấn đề này. Hầu hết các nguồn sử liệu Phật giáo và các học giả đều nhất trí cho rằng đức Phật đã nhập diệt lúc tám mươi tuổi. Nếu tính theo lịch Thiên Chúa giáo, ngày Niết-bàn của đức Phật theo truyền thống khoảng năm 2420 đến 290 TTL. Điều này không những làm cho các học giả lúng túng rất nhiều mà còn làm cho các Phật tử ngày nay ngộ nhận khi họ bắt đầu vào con đường nghiên cứu Phật học. Vì vậy, vấn đề biên niên sử đã được bàn thảo rộng rãi trong các phong trào Phật giáo quốc tế, và như chúng ta sẽ thấy dưới đây, đã có nhiều nỗ lực để đi đến thống nhất chung về Phật lịch, nhưng kết quả đạt được thật là giới hạn.

Vấn đề niên đại của đức Phật và những nhân vật đương thời với Ngài không kém phần quan trọng đối với các sử gia. Thật sự nó vẫn là vấn đề thiết yếu cho ngành sử học Ấn Độ và thế giới. Do đó, nhiều người đã có nhiều cố gắng để đi đến một niên đại thống nhất, tuy nhiên đại đa số các học giả Nam Á và phương Tây theo một khuynh hướng, còn các học giả Nhật Bản lại đi theo một khuynh hướng khác. Theo quyển "Lịch Sử Ấn Độ của Đại Học Cambridge" (Cambridge History of India), biên niên sử được phần lớn các học giả phương Tây và Nam Á sử dụng trong giai đoạn giữa thế kỷ XIX cho đến thời gian gần đây, giả định rằng: "Đức Phật nhập Niết-bàn trước hoặc sau vài năm của năm 480 TTL."[1] Cách tính này được xem như là cơ sở của biên niên sử Ấn thời kỳ đầu và nó cũng được xem như là tài liệu đáng tin cậy nhất trong lịch sử Ấn Độ. Vì thế, trong quyển Biên Niên Sử Ấn Độ (Chronology of India) của D. Mabel Duff (1899), viết: "Thái tử Siddhārtha, sau thành đức Phật Gautama, sinh ở Kapilavastu khoảng năm 557 TTL" được xem như ngày lịch sử đầu tiên trong bảng niên đại, ngay sau năm 3102 TTL- năm đầu tiên của kỷ nguyên Kaliyuga và năm 3076 TTL - năm đầu của kỷ nguyên Laukika.[2] Ngày đản sinh của đức Phật được tính ngược lại từ năm 477 TTL, và đây là năm đức Phật nhập Niết-bàn theo quan điểm của Max Muller.

Các cách tính này, đặc biệt dựa vào truyền thống biên niên của Đảo Sử (Dīpavaṃsa) Đại Sử (Mahāvaṃsa) trong văn học Pāli do các tác giả Tích Lan trước tác khoảng TK IV đến đầu TK VI TL cũng như dựa vào bộ Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa (Samantapāsādikā) của Ngài Phật Âm (Buddhaghosa). Tuy nhiên, niên đại được tính dựa theo những tác phẩm đã được các Phật tử Tích Lan cũng như các Phật tử theo truyền thống Theravāda ở Nam Á chấp nhận thì ngày đức Phật nhập Niết-bàn không phải năm 477 / 480 mà là năm 544 / 543 TTL. Đó là điểm khởi đầu của Phật lịch đã được các cộng đồng Phật giáo Theravàda ở Nam và Đông Nam Á sử dụng.[3] Niên đại 544 hay 543 TTL có thể gọi là biên niên sử gốc, hoặc là "Biên niên sử dài chưa-hiệu-chỉnh" (Uncorrected Long Chronology), hoặc là "Biên Niên Sử Phật Giáo Nam phương" (Southern Buddhist Chronology), trong khi đó biên niên sử các học giả phương Tây sử dụng được xem như "Biên Niên Sử Dài Đã Hiệu Chỉnh" (Corrected Long Chronology).

Trong giai đoạn nghiên cứu đầu tiên của người Châu Âu về Phật giáo, khoảng tiền bán TK XIX đã có khuynh hướng theo "Biên niên sử Nam truyền" hay "Biên niên sử Nam phương Phật giáo chưa hiệu chỉnh" này.[4] Chính đây là biên niên sử cuối cùng về niên đại đức Phật và dường như nó là quan điểm dễ chấp nhận nhất. Tuy nhiên, như đã đề cập trong phần giới thiệu của bản dịch Đại Sử của ấn bản Mahāvaṃsa xuất bản năm 1837 vô cùng có giá trị thời bấy giờ, George Turnour đã lưu ý đến mức độ không chính xác khoảng 60 năm giữa niên đại vua Chandragupta thuộc triều đại Maurya như đã được truyền thống này đề cập, và niên đại này được thành lập nhờ vào sự xác định niên đại đồng thời của vua Chandragupta và các nhà văn Hy Lạp Sandrakotto, và việc xác định này được ông William Jones phát hiện năm 1793. Ông Turnour đã kết luận rằng niên đại của các Hoàng Đế Chandragupta và Aśoka được tính quá sớm trong biên niên sử, nhưng ông lại chấp nhận dữ liệu trong Mahāvaṃsa cho khoảng cách giữa đức Phật nhập Niết-bàn và lên ngôi của vua Chandragupta là 168 năm và lên ngôi của vua Aśoka là 218 năm.[5] Dựa trên căn bản này, Turnour đã đưa ra một loại biên niên sử mới mà sau này mệnh danh là "biên niên sử dài đã hiệu chỉnh." Điều này càng được khẳng định hơn nữa nhờ sự giải mã về các bia ký của Aśoka và sự xác định niên đại của các vua Hy Lạp đương thời đã được đề cập trên các bia ký đó.[6]

Như người viết đã từng đề cập, "biên niên sử dài đã hiệu chỉnh" dù có sự biến thiên nhỏ giữa các năm 486 – 477 TTL được ấn định là năm đức Phật nhập Niết-bàn, được xem như là nền tảng của các biên niên sử Ấn Độ. Hầu hết các niên đại đã được đề cập trong các tác phẩm văn học Ấn Độ thời kỳ đầu đều dựa vào niên đại này và được rộng rãi quần chúng tin cậy như là ngày đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ. Như vậy, niên đại được ghi trong văn học Bràhmaṇa khoảng 1000 năm TTL, những bản kinh (Sùtra) và Áo Nghĩa Thư (Upanishad) thời kỳ đầu, khoảng 800 – 500 TTL, v.v… đã được các nhà nghiên cứu thời Max Muller lặp đi lặp lại nhiều lần, đều dựa trên tài liệu biên niên sử này.

Tuy nhiên, cũng còn một vài trường hợp ngoại lệ mà chúng ta gặp phải trong "biên niên sử dài đã hiệu chỉnh". Nhiều sách hiện nay về lịch sử Ấn Độ, lịch sử thế giới, lịch sử tôn giáo, v.v… trên thực tế lại được xuất bản ở các nước phương Tây hoặc ở Nam Á suốt 100 năm qua. Nhìn chung, nó được nhìn nhận như một sự kiện đã định hình. Trong số các luận chứng cổ điển, bản văn giới thiệu cho dịch phẩm Mahāvaṃsa (1912) của Wilhelm Geoger là một trong những bản văn có ảnh hưởng lớn nhất để ủng hộ giả thuyết này.[7]

Năm 1953, André Bareau đã xuất bản một bài khảo cứu có tính nghiên cứu cao được đăng tải trong tạp chí Journal Asiatique [8] để ủng hộ biên niên sử dài đã hiệu chỉnh. Từ đó niên đại khoảng 480 TTL như là niên đại đức Phật nhập Niết-bàn được tin là đã được thành lập "tương đối chắc chắn". Đây là điểm được A. K. Warder trình bày vào năm 1970[9] và nó có thể được công nhận một cách đương nhiên như là nền tảng của tất cả biên niên sử Ấn Độ thời kỳ đầu. Một số lý luận của những người ủng hộ biên niên sử dài vẫn tiếp tục được xem như có sức thuyết phục trong các bài viết có tính nghiên cứu cao gần đây về đề tài này, ví dụ như cuốn Đức Phật Lịch Sử của H. W. Schumann vào năm 1982.[10]

Tuy nhiên, có một số học giả hiện nay biện hộ cho Biên niên sử dài chưa hiệu chỉnh, nghĩa là theo Thượng Tọa Bộ, năm đức Phật nhập Niết-bàn là năm 544 TTL. Một trong những người đáng chú ý nhất là Vinsent A. Smith, tác giả cuốn Lịch Sử Ấn Độ thuộc Ấn Bản Oxford [11] Lịch Sử Ấn Độ Thời Kỳ Đầu từ 600 TCN đến Cuộc Xâm Lăng của Muhammadan.[12]

Người viết xin trích dẫn một dẫn chứng dưới đây[13]:

"Tôi không tin rằng niên đại của đức Phật có thể được xác định như là "chắc chắn" và trái với các ý kiến đã được ủng hộ cho rằng năm đức Phật nhập Niết-bàn là 487 hoặc 486 TTL. Ngày nay chúng ta có thêm một dữ liệu mới nhờ bia ký Khāravela, nếu nó đúng, buộc chúng ta phải đi ngược lại niên đại của Saisunaga hơn 50 năm, và vậy nó sẽ ủng hộ niên đại đức Phật nhập Niết-bàn theo truyền thống Tích Lan năm 544 hay 543 TTL. Điều này có thể lập luận rằng các truyền thống được bảo tồn ở Màgadha nên được tin tưởng hơn là những truyền thuyết do chư tăng ở Tích Lan xa xôi ghi lại sau này, nhưng cũng có bằng chứng thuyết phục hơn là đức Phật Gautama là người sống cùng thời với vua Srenika Bimbisara và con trai của vua là Kunika Ajata-sutra, và nếu như vậy, người viết cảm thấy rằng nên chấp nhận niên đại 543 TTL, vì nó dựa vào sử liệu được khám phá nhờ bia ký Khāravela; trừ phi có các nghiên cứu mới về đề tài này."

Biên niên sử 544 TTL của Thượng Toạ Bộ dĩ nhiên là được đại đa số các nhà nghiên cứu Phật học Nam Á hiện nay tán thành. Chính biên niên sử này đã được các phong trào Phật giáo quốc tế như "Hội Thân hữu Phật tử Thế giới" (World Fellowship of Buddhists) và các hiệp hội Phật giáo chấp nhận. Biên niên sử này được truyền bá khắp nơi. "Đại hội Phật giáo Thế giới" lần đầu tiên được tổ chức để mở màn cho Đại hội Phật giáo toàn quốc Tích Lan ở Colombo năm 1950, với niềm hy vọng rằng " đúng vào năm 2500 sau đức Phật diệt độ, tức là năm 1956 của TL, toàn thể thế giới sẽ tiếp nhận lối sống của đạo Phật" như được trình bày trong bản tường trình chính thức tại hội nghị.[14] Tại hội nghị một cuộc vận động được xúc tiến: "Các thân hữu Phật tử thế giới đã chấp nhận năm 2494 sau đức Phật nhập Niết-bàn như là năm thành lập Phật lịch (nghĩa là năm 1950) và bản nghị quyết này được gởi đến tất cả đoàn thể, hiệp hội Phật giáo để tường tri và thực hiện."[15] Tuy nhiên, nó đã bị trì hoãn để xét duyệt lại. Hội đồng chuyên gia đã được thành lập sau hội nghị Hội Thân hữu Phật tử Thế giới[16] lần hai, khẳng định quyết định này để ủng hộ Phật lịch theo truyền thống Thượng Toạ Bộ và nó được chấp nhận trong nghị quyết tại đại hội lần ba năm 1954.[17]

Mặc dù những nỗ lực này đã đạt đến những quyết định có thẩm quyền quan hệ đến Phật lịch, tuy nhiên vấn đề vẫn còn tồn đọng, gây tranh luận không những trong thế giới học giả mà còn trong thế giới Phật tử. Tôi xin trích dẫn một ví dụ từ những tác phẩm của tác giả Phật tử Tích Lan hiện nay, đó là ông G.H.de Zoysa. Ông cho rằng cái gọi là "Phật lịch chuẩn xác" phải là năm 384 TTL.[18] Giả thuyết này được bàn thảo rộng rãi ở Tích Lan, ví dụ tờ tuần báo Chủ Nhật Silumina của Colombo, ra ngày 9 tháng 8 năm1987.[19] Để biện hộ cho việc "chuẩn xác" Phật lịch, de Zoysa đã đưa ra những điểm không nhất quán trong cách tính năm của các biên niên sử Tích Lan thời kỳ đầu. Sự trình bày chi tiết của P.Kiefer-Pulz về giả thuyết của de Zoysa đã được tìm thấy trong một chương liên hệ của tác phẩm này.[20]

Tuy nhiên, trong các tác phẩm Sanskrit Phật giáo đầu tiên và những bản dịch của các tác phẩm này, chúng ta vô tình bắt gặp một truyền thống biên niên sử khác khá xa với các sử liệu của Thượng Toạ Bộ mà người viết đã bàn đến. Biên niên sử này cũng còn được gọi là "biên niên sử ngắn" (short chronology) cho rằng đức Phật nhập Niết-bàn trước lễ Đăng quang của vua Aśoka 100 năm.[21] Trong khi các bản chánh tạng, ngụy tạng và hầu hết các tác phẩm trong tục tạng tính thời gian giữa đức Phật nhập Niết-bàn và lễ đăng quang của vua Aśoka là 100 năm, thì trong luận thuyết phân phái Samayabhedoparacanacakra của Ngài Vasumitra (Thế Hữu / Thiên Hữu hoặc được phiên âm là Bà-tu-mật) thuộc văn học Trung Quốc, chúng ta lại bắt gặp con số "116" với cách đọc khác là "160" và con số "160" trong luận phẩm Nikayabhedavibhangavyakhyana của Ngài Bhavya và một vài con số khác trong các tài liệu sau này.[22]

Tuy nhiên, "biên niên sử ngắn" lại không cung cấp cho chúng ta một hệ thống niên đại như cách của biên niên sử dài. Các truyền thống Ấn Độ thường chỉ cung cấp một biên niên sử tương đối, nghĩa là khoảng thời gian giữa đức Phật nhập Niết-bàn với giai đoạn Vua Aśoka hoặc đức Phật nhập Niết-bàn với Vua Kanishka. Tuy thế, truyền thống chép sử ở Ấn Độ lúc bấy giờ không phải là không bị gián đoạn. Vì vậy, Phật tử Ấn Độ thời Trung cổ không có truyền thống nào đáng tin tưởng liên quan đến khoảng thời gian giữa Vua Aśoka hay Kanishka với thời của họ, và do đó hầu như họ cũng không chấp nhận lối chuyển các thông tin này thành cách tính về khoảng cách thời gian giữa đức Phật nhập Niết-bàn đến thời của họ. Nếu như sử dụng biên niên sử Purāṇa (tuyển tập về chuyện kể liên quan đến Bà-la-môn giáo) của các Bà-la-môn đương thời để tính thời đại Maurya, họ sẽ có biên niên sử sớm hơn. Tất nhiên, vấn đề này cũng tăng cường sự bất đồng của những người ở Đông Á, Tây Tạng, và các nước Trung Á khác để tính ngày Niết-bàn trong giới hạn hệ thống niên đại riêng của họ, bởi vì phần lớn các truyền thống này đều dựa vào cách tính của các trường phái Phật giáo ở Ấn Độ.[23] Về phương diện này, truyền thống Ấn Độ hoàn toàn khác với truyền thống của các vị Thượng Toạ Bộ, ngay từ các thời kỳ đầu đã đưa ra hệ thống biên niên sử nhất quán.

Học giả người Hà Lan, Hendrik Kern (1896), là người đầu tiên đưa ra hai đoạn trong Dīpavaṃsa (1.24-27 và 5.55-59) giả định rằng trong một phần khác của biên niên sử ngắn[24] bị biên niên sử dài thay thế. Tính không nhất quán này có thể được giải thích bằng cách cho Dīpavaṃsa không phải là một tác phẩm văn học có giá trị, mà chỉ là tuyển tập các bài kệ từ các tác phẩm trước đây như Wilhem Geiger[25], Erich Frauwallner[26], và các học giả khác đã trình bày. Dựa vào trọng điểm của những đoạn này, Hendrik Kern, và sau này E. J. Thomas[27], G. C. Mendis[28] cũng như gần đây nhất P. H. L. Eggermont[29] quan niệm rằng biên niên sử ngắn trình bày biên niên sử Phật giáo sớm nhất và nó đi trước tất cả biên niên sử Phật giáo khác. Tuy nhiên, các học giả khác thích đi theo hướng của Hermann Oldenberg hơn và giải thích lại các đoạn trong Dīpavaṃsa như là các đoạn tham khảo thiếu cứ liệu về mặt văn bản học so với biên niên sử dài.[30]

Các học giả Nhật Bản lại bất đồng về vấn đề này hơn các học giả phương Tây. Hầu hết các học giả Nhật Bản có thẩm quyền hiện nay đều dựa vào sự khác biệt của cái gọi là biên niên sử ngắn ấy để làm điểm khởi đầu cho việc tính toán niên đại của đức Phật.[31] Phương pháp họ sử dụng cho cách tính này, căn bản giống như phương pháp những người ủng hộ biên niên sử dài đã hiệu chỉnh đã sử dụng, nghĩa là thêm 100 năm hoặc thêm 116 năm vào ngày vua Aśoka đăng quang như các sử gia đã viết, và do vậy ngày đức Phật nhập Niết-bàn phải là năm 368 hay 383 TTL. Trong một bài tham luận nhân dịp hội thảo chuyên đề về niên đại đức Phật lịch sử (1988), Akira Hirakawa cho rằng vua Aśoka sống khoảng 100 năm sau khi đức Phật diệt độ vì cách tính niên đại này được tìm thấy hầu hết trong Tam Tạng và nó rất phù hợp với phương diện phát triển Tăng đoàn.[32] Tuy nhiên, Hajime Nakamura đã nhấn mạnh trong bản tham luận của mình ở buổi hội thảo là năm nhập Niết-bàn của đức Phật phải được tính dựa vào niên đại đã được tìm thấy trong bản dịch tiếng Hoa   là Samayabhedoparacanacakra của Vasumitra (Thế Hữu) đã được đề cập ở trên. Theo Luận phẩm đó, số năm từ khi đức Phật nhập diệt cho đến khi Vua Aśoka xuất hiện là 116 năm. Giả thuyết này cho rằng đức Phật nhập Niết-bàn năm 383 TTL và cũng được Nakamura đưa ra vào năm 1955.[33] Tương tự các học giả Nhật Bản hiện nay đã đưa ra nhiều biên niên sử dựa trên cách đánh giá của mức độ thay đổi trong biên niên sử ngắn, đó là năm 390 hoặc là 384 TTL (Genmiyo Ono, 1905)[34] năm 386 TTL (Hakuji Ui, 1924)[35], và khoảng 400 TTL (Ryùsho Hikata, 1980).[36]

Các học giả Nhật Bản thuộc trường phái khác chấp nhận biên niên sử được mệnh danh là "Chúng Thánh Điểm Ký" ở Quảng Đông (Canton). Đây là truyền thống có liên quan đến một bản văn viết tay rất cổ, trong đó mỗi năm được chấm vào một chấm sau năm đức Phật nhập Niết-bàn. Truyền thống này vẫn còn được tiếp diễn ở Quảng Đông đến năm 489 TL. Từ số các dấu chấm này người ta suy ra, năm đức Phật nhập Niết-bàn là 486 TTL hay nếu theo cách tính khác là vào năm 483 TTL.[37] Niên đại này khá ăn khớp với biên niên sử dài đã hiệu chỉnh. Tuy nhiên, giá trị sử liệu và nguồn gốc biên niên sử vẫn còn đang gây rất nhiều tranh luận. Trường phái biện hộ cho biên niên sử này được trình bày trong sách chuyên đề do công đóng góp của G. Yamayaki, người theo truyền thống Nam Phương (xem phần IV của bài viết này).[38] Với ngoại lệ duy nhất của biên niên sử dựa vào "Chúng Thánh Điểm Ký" này, các cách tính của các học giả Nhật Bản không dựa vào truyền thống Đông Á mà chỉ dựa vào nguồn gốc hiện đại. Chúng phát xuất từ sự đánh giá về những tác phẩm nguyên tác bằng ngôn ngữ Sanskrit Phật giáo hoặc các bản dịch Trung Hoa hay Tây Tạng, thường được đề cập đến bằng thuật từ mặc ước, "Bắc tông" hay các truyền thống Phật giáo phương Bắc.

Về điểm này, cần phải nhắc đến tác phẩm được xem như là "thánh kinh" của các nghiên cứu Phật học hiện đại, đó là quyển "Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ" của Étienne Lamotte xuất bản năm 1958.[39] Có lẽ rất hữu ích khi trích dẫn những đoạn đề cập đến biên niên sử ngắn và dài trong tác phẩm của Lamotte[40] ở đây:

"Hai biên niên sử này được xác nhận trong tài liệu cổ: biên niên sử dài cho ngày đức Phật nhập Niết-bàn là 218 năm trước lễ đăng quang của Aśoka (khoảng 486 TTL) và biên niên sử ngắn cho sự kiện này khoảng 100 năm trước Aśoka lên ngôi (khoảng 386 TTL).

1. Như vậy, theo Biên niên sử dài được truyền thống Tích Lan công nhận, lễ Đăng quang của Aśoka thuộc vào năm 218 sau đức Phật nhập Niết-bàn (Dīpavaṃsa VI.1, tr.19-20; Mahāvaṃsa V.21; các ấn bản Pāli khác nhau của bộ Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa (Samantapāsādikā) I, tr. 41, 1.25) và đại hội kết tập kinh điển tại Pā.taliputra 18 năm sau, nghĩa là vào năm 236 sau đức Phật nhập Niết-bàn (Dīpavaṃsa VII. 37 và 44; Mahāvaṃsa V. 280).

Tuy nhiên, cách tính này đòi hỏi cần thận trọng.

Trong Đảo Sử, truyền thống này tính tới 13 vị vua suốt khoảng thời gian 278 năm từ lúc Bimbisāra lên ngôi (60 năm trước đức Phật nhập Niết-bàn) cho đến khi lễ đăng quang của vua Aśoka (218 năm sau đức Phật nhập Niết-bàn)- một con số rất thông thường, nhưng điều đáng nói ở đây là chỉ có năm vị Tổ Sư Luật tạng- một con số quá nhỏ.

Trong phần 2, biên niên sử và các bản sớ giải của Tích Lan không trung thực tuyệt đối với cách tính của chúng. Như vậy, lễ Đăng quang của vua Aśoka vào năm 118 sau đức Phật nhập Niết-bàn theo ấn bản tiếng Hoa của quyển Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa (Samantapāsādikā) (Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, số 1462 k.1, tr. 679c 13) thay vì năm 218 sau đức Phật nhập Niết-bàn. Kỳ kiết tập kinh điển ở Pā.taliputra thay vì là năm 236 sau đức Phật nhập Niết-bàn thỉnh thoảng lại cho 218 (trong Dīpavaṃsa I, tr 24-25, và V, tr. 55-59), thỉnh thoảng cho là 218 sau đức Phật nhập Niết-bàn (Atthasālinì, tr. 3, 1.26-27; tr. 4, 1.25-26).

2. Hầu hết tất cả các tác phẩm Sanskrit và tiếng Hoa đều dựa vào biên niên sử ngắn cho rằng lễ đăng quang của vua Aśoka sau đức Phật nhập Niết-bàn 100 năm. Tuy nhiên, theo cách tính này chỉ có 12 vị vua và 5 vị Tổ sư Luật Tạng từ thời vua Bimbisāra và Aśoka. Có nhiều nguồn sử liệu cho rằng Aśoka và vị quốc sư Upagupta sống khoảng 100 năm sau đức Phật nhập Niết-bàn…"

Cũng trong tác phẩm vừa nêu (tr.15), Lamotte đã phát biểu hết sức thận trọng trong một đoạn văn rằng "các sử gia hiện nay có thể chọn tuỳ ý biên niên sử dài hay biên niên sử ngắn," riêng ông, ông chỉ sử dụng biên niên sử dài như là "một giả thuyết có thể chấp nhận." May mắn thay, người viết đã có cơ hội thảo luận riêng vấn đề này với cố giáo sư Lamotte. Ông cho rằng việc sử dụng biên niên sử dài chỉ là "vấn đề thuận tiện"; và dưới ánh sáng những bằng chứng hiện có, "chúng ta nên đề ra niên đại của đức Phật nhập Niết-bàn một cách dứt khoát." Quan điểm này cũng được phản ánh trong những tác phẩm sau cùng của ông.[41]

Khi đối diện với các giả thuyết khác nhau của các học giả được đào tạo trong các truyền thống phương Tây và Nhật Bản, tác giả cảm thấy cần phải đặt lại cái gọi là độ đáng tin cậy của biên niên sử Ấn Độ hay phương Tây. Trong tiến trình khảo cứu, người viết đi đến kết luận rằng những bằng chứng có giá trị về "biên niên sử dài đã hiệu chỉnh" hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Trong một bài tham luận tại Hội Thảo về Ấn Độ Học ở Stockholm năm 1980, tác giả cho rằng "biên niên sử dài đã hiệu chỉnh" không nên được ủng hộ nữa. Bài viết này sau đó được xuất bản trong tạp chí Indologica Taurinensia. [42] Trong đó, người viết đã bày tỏ lòng biết ơn đến Giáo sư Eggermont đã khuyến khích xuất bản những khám phá của người viết nhân dịp Hội thảo Lần Thứ Hai của Hội Phật Học Quốc Tế ở Nalanda (The Second Conference of the International Asociation for Buddhist Studies in Nalanda), tháng 1 năm 1980, khi người viết đọc bản tóm tắt đó.[43] Người viết cũng đã ghi nhận rằng "những khám phá của Eggermont cũng không mâu thuẫn với quan điểm đã trình bày trong bài viết này" (nghĩa là bài viết trong Indologica Taurinensia, 1982), "và các lập luận khác của giáo sư Eggermont trên căn bản cũng đã đi đến cùng một kết luận" trong bài viết của ông mang tựa đề "Những Ghi Chú Mới về Aśoka và Những Vị Kế Thừa".[44] Đức Phật và Mahānīra là những người đồng thời, cho nên biên niên sử của Mahānīra cũng phải được xét duyệt lại. Điều này cũng đã được đề cập tại hội thảo quốc tế ở Strasbourg năm1980.[45] Trong tiến trình khảo sát xa hơn, một số quan điểm đã được trình bày trong những cố gắng ban đầu này được xem là đúng, và một tác phẩm nghiên cứu chi tiết hơn, "Cuộc Đời Đức Phật, Niên Đại Thành Lập Sớm Nhất của Lịch Sử Ấn Độ" được xuất bản năm 1986.[46] Trong bài viết này, người viết cho rằng các nguồn tài liệu hiện hành không giúp gì được để xây dựng lại chính xác cuộc đời đức Phật, bởi vì chúng ta không có bằng chứng nào thuyết phục về những gì mà tài liệu biên niên sử đáng tin cậy được truyền thừa ở Ấn Độ trước cuộc xâm lăng của Vua Alexander. Người viết tin tưởng rằng "biên niên sử ngắn" trình bày biên niên sử Phật giáo sớm nhất trong nguồn sử liệu chúng ta đã tìm ra. Tuy nhiên, điều này không ám chỉ nó trình bày tài liệu biên niên sử đáng tin cậy. Những nghi ngờ này cùng với tất cả những nỗ lực để đi đến xác định trong vòng mười năm hay vài mươi năm khi sự kiện đức Phật nhập Niết-bàn xảy ra, bao gồm những nỗ lực trước đây của riêng người viết.[47] Tuy nhiên, điều này cũng không thể cấm đoán người viết phát biểu rằng, nếu dùng từ của Lamotte, "hãy đi đến kết luận niên đại của đức Phật nhập Niết-bàn một cách dứt khoát".[48] Để hiểu rõ các quan điểm này, người đọc có thể xem bài nghiên cứu trong tác phẩm này.[49]

Một bài giới thiệu trong một tuyển tập về biên niên của đức Phật sẽ còn nhiều thiếu sót nếu không tham khảo đến những bài khảo cứu khác nhau của các học giả Ấn Độ về cách tính năm của đức Phật và những người đồng thời với Ngài. Mặc dù đại đa số các học giả Ấn Độ hiện đại như đã gợi ý ở trên đều lấy nguồn thông tin biên niên sử từ các nguồn tài liệu Ấn Độ được các học giả phương Tây tin cậy như trong bài nghiên cứu của J. U. Hartmann trong tập sách này.[50] Rất nhiều sử gia Ấn Độ dựa vào các nguồn tài liệu khác nhau, phần lớn là dựa vào truyền thống được ghi lại trong các bộ Purāṇa. Các học giả này không chấp nhận giá trị của những luận điểm mà biên niên sử dài đã hiệu chỉnh và cách tính của người Nhật Bản và phương Tây hiện nay về niên đại của đức Phật nhập Niết-bàn đã dựa vào. Nghĩa là niên đại đồng thời giữa vua Chandragupta và Aśoka với tài liệu biên niên sử ở Hy Lạp. Người viết xin trích dẫn một ví dụ ở đây trong cuốn Lịch Sử Văn Học Sanskit Cổ Điển [51] của M. Krishnamachariar (1937) mà ngày nay vẫn còn được sử dụng như một tác phẩm tham khảo rất phổ biến trong làng văn học Sanskrit. Trong một bài luận về biên niên sử dài, tạo nên một phần giới thiệu cho cuốn sách này[52] ông đã bàn chi tiết về các nghiên cứu của các học giả phương Tây từ thời điểm nghiên cứu của William Jones, nhưng kết quả hoàn toàn khác nhau. Krishnamachariar phê bình gay gắt những gì ông gọi là "sai lầm về niên đại đồng thời giữa Sandracottus của người Hy Lạp và vua Chandragupta Maurya"[53] và ông đưa ra một niên đại đồng thời khác. Biên niên sử của riêng ông dựa vào các đoạn trong văn học Purāṇa. Theo ý của ông văn học Purāṇa "tính thẩm quyền của nó thật là chắc chắn." Các đoạn văn này cho rằng "triều đại Maurya kéo dài khoảng 316 năm, từ 1535 – 1219 TTL".[54] Do đó, ngày đức Phật nhập Niết-bàn phải được tính sớm hơn.

Những dòng quan điểm tương tự như vậy được nhiều học giả Ấn Độ khác dựa theo. Ví dụ, gần đây (khoảng năm 1984) V. G. Ramachandran sử dụng cách tính thiên văn học như là luận điểm chính của ông, và đã tuyên bố rằng năm đức Phật đản sinh là 1887 TTL và năm đức Phật nhập Niết-bàn là 1807 TTL.[55] Năm 1987, Shriram Sathe đã xuất bản tập "Hội thảo chuyên đề" Niên Đại Đức Phật mà người viết muốn giới thiệu ở đây để cung cấp thêm thông tin về nhiều niên đại khác nhau mà các học giả Ấn Độ đã đề nghị.[56] Một loại kết hợp khác giữa niềm tin truyền thống và nghiên cứu học đường được các học giả nỗ lực trình bày để tính niên đại của đức Phật, bằng cách đối chiếu niên đại đồng thời của lịch sử Ấn Độ và Trung Quốc thời kỳ đầu. Các loại lịch sử này được trình bày trong bài phát biểu của Chen Yen-huei.[57]

ĐIỂM LẠI LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đối tượng chủ yếu trong bài hội thảo chuyên đề của Gottingen (1988) về niên đại của đức Phật lịch sử và tuyển tập này là nỗ lực khảo duyệt và hiệu đính toàn diện một cách nghiêm túc những học thuyết về niên đại của đức Phật trong điều kiện cho phép. Chính các dữ kiện ban đầu được các sử gia cung cấp không thể dẫn đến sự nhất trí như là câu trả lời cuối cùng cho vấn đề này. Sự thống nhất ý kiến rất khó có thể đạt được trong một cuộc hội thảo chuyên đề với sự đóng góp của các học giả thuộc nhiều truyền thống nghiên cứu và nhiều cách tiếp cận với các phương pháp khác nhau. Ngược lại, thật là ngạc nhiên, ít nhất chúng ta đã đạt đến quan điểm chung một phần nào liên quan đến các phương diện chủ yếu của vấn đề này. Trong tập này, trong một góc độ nào đó chúng ta trình bày vấn đề niên đại đức Phật khá tổng quát, nếu không muốn nói là cung cấp tài liệu nghiên cứu toàn diện về niên đại của đức Phật lịch sử các cách trả lời khả dĩ về vấn đề này. Nhờ vậy, giới độc giả có thể có được những thông tin cần thiết để rút ra các quan điểm cho riêng mình về những vấn đề đang còn tranh luận này.

Như vậy chúng ta đã đánh dấu điểm nổi bật trong tiến trình hội thảo về lịch sử nghiên cứu đề tài. Phần lớn các luận điểm được trích dẫn để ủng hộ các biên niên sử đức Phật đã được các học giả đề cập trong suốt 150 năm qua, và như vậy chúng đã trùng khớp với các tác phẩm trước đây về cùng đề tài. Một số sự kiện lịch sử đã được trưng dẫn ở trên trong phần đầu của lời giới thiệu này. Trong tuyển tập này người đọc sẽ thấy bản tường thuật chi tiết của Siglinde Dietz về lịch sử nghiên cứu phương Tây cho đến 1980 (xem cùng tác phẩm, tr. 39-105). Bản nghiên cứu đánh dấu giai đoạn sớm nhất của các ấn bản châu Âu về đề tài, bắt đầu từ việc tính niên đại đức Phật đản sinh vào năm 1026 TTL, trong tác phẩm Khổng Tử (Confucius) của tác giả Phillippe Couplet (1687), người Bỉ. Thời gian đức Phật trụ thế là 79 năm, một con số được xem là có giá trị cho đến ngày nay.

Một giai đoạn nghiên cứu mới bắt đầu bằng cách tính dựa theo biên niên sử dài đã hiệu chỉnh của George Turnour năm 1837. Suốt TK XIX và XX, nhiều học giả phương Tây, một mặt đã đề xuất các niên đại khác nhau bao gồm biên niên sử chưa hiệu chỉnh của Thượng Toạ Bộ, và sau này Albrecht Weber, Niels Ludwig Westergaard[58] và các học giả khác thừa nhận. S. Dietz đã trình bày những nỗ lực khác nhau về cách tính niên đại của đức Phật trong bài khảo cứu của ông, do đó các độc giả xem tuyển tập này sẽ được cung cấp đầy đủ các thông tin về lịch sử nghiên cứu của phương Tây về lãnh vực này.

Lịch sử nghiên cứu về niên đại đức Phật ở Ấn Độ và Tích Lan bằng ngôn ngữ phương Tây được Jens-Uwe Hartmann đề cập đến.[59] Những nhà nghiên cứu ở Nam Á và các học giả phương Tây nghiên cứu lãnh vực này dĩ nhiên trao đổi ý kiến qua lại. Bài khảo cứu này được bổ sung bằng các tài liệu: (i) công trình nghiên cứu của Gustav Roth về các ấn phẩm cùng chủ đề bằng tiếng Hindi[60], (ii) ghi chú về Phật lịch trong Malalankaravatthu của Heinz Braun[61], và (iii) một bài tóm lược các nghiên cứu của người Nhật Bản về cùng chủ đề của Hajime Nakamura.[62] Thông tin về việc nghiên cứu ở Trung Hoa chỉ được tìm thấy trong các bài đóng góp của một số tác giả như Herbert Franke trong phần 5 của tập này[63] , bài "Cách Tính Niên Đại của Đức Phật theo Phật Giáo Trung Hoa"[64] của Lewis Lancaster, trong bài "Nghiên cứu của người Trung Hoa về Niên Đại Đức Phật"[65] của Chen Yen-huei. Một số nỗ lực gần đây nhất trong việc nghiên cứu về niên đại đức Phật lịch sử cũng được thảo luận trong bài giới thiệu mang tính khảo cứu này.

BẰNG CHỨNG RÚT RA TỪ BỐI CẢNH LỊCH SỬ VĂN HOÁ ẤN ĐỘ

Vấn đề niên đại của đức Phật không thể xác định một cách đúng đắn nếu không có khảo cứu về bối cảnh lịch sử văn hoá Ấn Độ trong đó đức Phật thuyết giảng giáo pháp. Hiểu biết và giải thích dựa theo bối cảnh Ấn Độ cung cấp cho chúng ta nhiều bằng chứng gián tiếp cần thiết. Bằng chứng này có thể xem như thước đo về các tài liệu biên niên sử từ các nguồn khác. Chính nhờ các nguồn tài liệu này có thể giúp chúng ta ấn định niên đại tương đối đáng tin cậy của đức Phật. Các bằng chứng gián tiếp như vậy có thể được rút ra từ nguồn thông tin lịch sử Phật giáo thời kỳ đầu. Và trong bối cảnh lịch sử đó, đặc biệt (1) tình trạng chính trị và xã hội ở phía Bắc Ấn Độ trong thời đức Phật, (2) bằng chứng nhờ khám phá của khảo cổ học về giai đoạn này, (3) người đương thời đức Phật là Mahānīra, (4) sự kế tục của các Tổ Sư Luật Tạng của Phật giáo và Kỳ-na giáo, (5) biên niên sử của quá trình phát triển giáo lý và triết học thời kỳ đầu, (6) quá trình phát triển của ngôn ngữ, phương tiện diễn đạt, văn học và âm điệu thi kệ trong truyền thống Phật giáo Thượng Toạ Bộ, (7) thông tin từ các nguồn phi Phật giáo trong lịch sử Ấn Độ cổ đại, (8) mối bang giao văn hoá giữa Ấn Độ và phương Tây thời cổ, và (9) việc nghiên cứu các yếu tố thần thoại trong các truyền thống biên niên sử.

Việc đánh giá các thông tin gián tiếp này được trình bày trong các bài viết trong tập này: "Nghiên Cứu theo Phương Pháp Khảo Cổ về các Di Tích Phật Giáo Cổ Đại"[66] của Herbert Hartel; "Vài Khảo Sát về Ý Nghĩa của Niên Đại Đức Phật trong Lịch Sử Bắc Ấn"[67] của Hermann Kulke, "Bối Cảnh Lịch Sử về Quá Trình Phát Triển Phật Giáo và Cách Tính Niên Đại"[68] của Georg von Simson; "Niên Đại Đồng Thời của Đức Phật và Jina Mahānīra và Vấn Đề Biên Niên Sử của Kỳ-na Giáo Nguyên Thuỷ"[69] của Adelheid Mette; "Khảo Sát Ngôn Ngữ Học về Niên Đại Đức Phật"[70] của Oskar von Hinuber; "Các Tham Khảo của Ấn Độ Cổ Đại về Hy Lạp và Các Cuộc Gặp Gỡ Đầu Tiên giữa Phật Giáo và Phương Tây"[71] của Wilhem Halbfass; "Một số ý kiến về Vấn Đề Niên Đại Đức Phật nhập Niết-bàn"[72] của André Bareau, và "Gia Phả Purāṇa và Niên Đại của Đức Phật"[73] của Heinrich von Stietencron. Có nhiều kết luận khác nhau về vấn đề niên đại đồng thời của đức Phật và Mahānīra, điển hình là bài viết của bà Adelheid Mette trong tập này và bài viết "Năm Qua Đời của Mahānīra"[74] của P. H. L. Eggermont trong phần đầu của tập Symp IV, 1.

Lambert Schmithausen đã "Nỗ Lực Đánh Giá Khoảng Thời Gian giữa Aśoka và Đức Phật dưới Dạng Lịch Sử Học Thuyết"[75] Một vài phương diện liên hệ khác cũng được Sigfried Lienhard giới thiệu trong bài "Ghi Chú Ngắn về Niên Đại Đức Phật Lịch Sử và Thơ Ca Cổ Điển[76] và "Gia Phổ của Đức Phật và Tổ Tiên của Ngài" của Ryutaro Tsuchida.[77]

Đóng góp của ông đối với tập này (cùng tác phẩm, tr. 195-209), Wilhelm Halbfass không chỉ làm rõ tầm quan trọng của các mối quan hệ giữa người Hy Lạp và người Ấn Độ trong thời kỳ đầu để giúp chúng ta hiểu về biên niên sử nhưng cũng đề cập đến giả thuyết mới của ông Daniel Schlumberger, cho rằng giáo pháp đức Phật đã chịu ảnh hưởng của triết gia Hy Lạp Epicurus. Halbfass nói rằng lý thuyết này "không những vô bổ mà còn không thể đứng vững được". Có thể nói một cách không ngần ngại là giả thuyết gần đây của Paolo Daffinà dựa trên học thuyết của Schlumberger (xem thêm phần nhận xét của người viết tr. 277-280, cùng tác phẩm).

Người viết không dự định tóm tắt ở đây những luận điểm khá phức tạp của những bài đóng góp này, nhưng người viết cảm thấy gần như tất cả các bài viết đều đi đến kết luận cho rằng có những lý do chính đáng để xác định niên đại của đức Phật trễ hơn năm được ghi nhận trong biên niên truyền thống. Herbert Hartel tóm tắt những khám phá của ông: "từ quan điểm này…, rồi đến niên đại của đức Phật trong TK thứ V - IV TTL là rất có thể" (cùng tác phẩm, tr. 159). Trong phần nghiên cứu uyên bác về khoảng cách tương đối giữa vua Aśoka và đức Phật dưới dạng lịch sử giáo lý, Lambert Schmithausen đã cẩn thận phát biểu "việc khảo sát của ông có lẽ không được chắc chắn, ngoại trừ niên đại đầu tiên của đức Phật, nhưng dường như nó đưa ra một niên đại sau này có khả năng hơn".[78] Georg von Simson tóm tắt rằng, mối bận tâm của ông là "việc đánh giá sau này có khả năng hơn nhiều so với việc đánh giá trước" (cùng tác phẩm, tr. 137). Bài đánh giá về "Các Tham Khảo của Ấn Độ Cổ Đại về Hy Lạp và Các Cuộc Gặp Gỡ Đầu Tiên giữa Phật Giáo và Phương Tây" của Wilhem Halbfass cũng đi đến kết luận tương tự: "ít nhất nó hầu như dễ dàng phù hợp với giả định cho rằng Phật giáo chưa thể có mặt hai Thế kỷ trước thời Megasthenes; Phật giáo cũng chưa xây dựng được các trung tâm tu viện, Phật giáo còn khá trẻ và chưa có bộ mặt đầy đủ khi Magesthenes viếng thăm kinh đô Pataliputra khoảng năm 300 TTL" (cùng tác phẩm, tr.205). S. Lienhard dựa vào một bài nghiên cứu về thi kệ Phật giáo Thượng Toạ Bộ đã kết luận rằng biên niên sử dài đã hiệu chỉnh "dường như nằm quá xa mốc thời gian".[79] Tóm lại, kết luận rút ra dường như không thể tránh khỏi là các nguồn sử liệu chính yếu về bằng chứng gián tiếp đối với niên đại của đức Phật có sức thuyết phục hơn tài liệu đã được biên niên sử dài đã hiệu chỉnh đề cập.