Giới thiệu Pháp viện Minh Đăng Quang

Ban TT-TT Hệ phái 05/07/2017, 22:23

 

PV VuGiang2017

PHÁP VIỆN MINH ĐĂNG QUANG
505 Xa lộ Hà Nội, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh (ảnh: Vũ Giang)

I. VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ NGÔI PHÁP VIỆN

- Năm thành lập: 1968

- Người sáng lập: Đại lão Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên - Tổng Tri sự Trưởng Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam

- Hệ phái gốc: Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam

- Hiện nay: Hệ phái Khất sĩ - Thành viên sáng lập GHPGVN (Một trong 3 tông phái Phật giáo Việt Nam)

- Đặc điểm: Trú xứ Đại diện Thường trực Giáo phẩm Hệ phái (Trung tâm Hoằng pháp, Giáo dục, Văn hóa, Xã hội... của HPKS)

- Viện chủ: Hòa thượng Giác Phúc - Thành viên Hội đồng Chứng Minh GHPGVN

- Chư Tôn đức trụ trì tiền nhiệm:

+ Hòa thượng Giác Phúc (từ 1968 - 1988)

+ Hòa thượng Giác Huyền (từ 1989 - 1994)

+ Hòa thượng Giác Lai (từ 1994 - 2014)

- Trụ trì hiện nay: Hòa thượng Giác Toàn (từ 2014) - Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, Giáo phẩm Thường trực Hệ phái Khất sĩ

- Chư Tăng thường trú và tạm trú dài hạn, theo học các trường Phật học tại thành phố: khoảng 50 vị.

- Số lượng Phật tử cúng hội, nghe pháp, sám hối thường xuyên hàng tuần, hàng tháng: từ 200 đến 500 người.

- Số lượng Phật tử vãng lai trong những ngày lễ hội lớn từ 5 đến 10 ngàn người.

II. NHỮNG NGÀY LỄ HỘI TRONG NĂM

1. Ngày mùng 1 tháng Giêng âm lịch: Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc.

2. Ngày 14 và Rằm tháng Giêng âm lịch: Lễ Thượng nguyên.

3. Ngày 30 tháng Giêng và mùng 01 tháng 02 âm lịch: Đại lễ Tưởng niệm Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng.

4. Từ ngày mùng 08 đến Rằm tháng 4 âm lịch: Đại lễ Kỷ niệm Đức Phật đản sanh.

5. Từ ngày 16 tháng 4 đến Rằm tháng 7 âm lịch: Mùa An cư Kiết hạ hằng năm của chư Tăng Hệ phái trong 3 tháng.

6. Từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 4 âm lịch: Tuần lễ Bồi dưỡng chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tịnh xá của Hệ phái.

7. Lễ vía Bồ tát Quán Thế Âm vào các ngày: 19 tháng 02 âm lịch, 19 tháng 6 âm lịch, 19 tháng 9 âm lịch. Đặc biệt ngày 19 tháng 6 âm lịch là ngày Húy kỵ Đại lão Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên.

8. Từ ngày mùng 01 đến ngày mùng 08 tháng 7 âm lịch: Tuần lễ Bồi dưỡng Đạo hạnh cho Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, Tập sự trong Hệ phái.

9. Ngày 14 và Rằm tháng 7 âm lịch: Đại lễ Tự tứ Tăng và Vu lan bồn theo truyền thống Phật giáo và Hệ phái.

10.a) Ngày Rằm và 30 âm lịch hằng tháng: Lễ cúng hội theo truyền thống Hệ phái.

     b) Hằng tuần vào 4 ngày Chủ Nhật: Tổ chức các khóa tu dành cho cư sĩ tại gia.

- Khóa tu Một ngày An lạc, Niệm Phật, Thiền Tứ Niệm xứ

(dành cho các đối tượng Phật tử)

- Khóa tu dành cho học sinh, sinh viên Phật tử.

III. MÔ HÌNH KIẾN TRÚC VÀ Ý NGHĨA

1. Tổng thể mô hình kiến trúc

Toàn khuôn viên Pháp viện Minh Đăng Quang có diện tích 37.500 m2, được thiết kế theo mật độ xây dựng 22% trên diện tích khu đất, tức là xây dựng khoảng 30.000 m2.

Từ ngoài nhìn vào, phía trước - chính giữa là bảng hiệu Pháp viện Minh Đăng Quang rộng 9m, cao 6m; hai bên là hai cổng Tam quan rộng 14m (cửa chính rộng 8m2, cửa phụ rộng 3m).

Ngay chính giữa phía sau bảng hiệu Pháp viện là Điện thờ Bồ tát Di Lặc để khách hành hương, vãng lai có thể đảnh lễ chiêm bái Bồ tát cầu phước lộc.

Sát bên cổng tay phải (từ ngoài nhìn vào) tôn trí tượng Bồ tát Quán Thế Âm lộ thiên - hình tượng tâm đức từ bi "Mẹ hiền" cao 9m, luôn che mát "những đứa con thơ trong đời".

1.1. Hai ngôi bảo tháp phía trước

Tiếp nối là hai ngôi bảo tháp, từ ngoài vào bên phải là "Bảo tháp Ca Diếp – Danh hiệu Tôn giả đệ nhất hạnh đầu đà"; ngôi bảo tháp tiêu biểu tượng trưng cho lịch sử Hệ phái, kiến trúc mô hình bát giác (Bát chánh đạo) gồm chín tầng, cao 37m.

Tầng trệt tứ giác rộng 16m2 trang trí hình ảnh và cuộc đời hành đạo của Tổ sư khai lập Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, tiền thân của Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam mà ngày nay là Hệ phái Khất sĩ, một trong chín tổ chức Giáo hội, thành viên thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Tòa tháp bên trên có 8 tầng bát giác, tầng 9 đến tầng 2 tôn trí thờ bảy vị cổ Phật quá khứ và Tổ sư Minh Đăng Quang khai lập Hệ phái Khất sĩ.

- Đức Phật Tỳ Bà Thi

- Đức Phật Thi Khí

- Đức Phật Tỳ Xá

- Đức Phật Câu Lưu Tôn

- Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni

- Đức Phật Ca Diếp

- Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

- Tổ sư khai sơn Hệ phái: Minh Đăng Quang

Bên trái cổng Tam quan là ngôi "Bảo tháp Xá Lợi Phất - Danh hiệu Tôn giả trí tuệ đệ nhất". Ngôi bảo tháp làm thư viện, lưu trữ tam tạng kinh điển Phật giáo để Tăng Ni, Phật tử các giới vãng lai có thể tìm đọc, nghiên cứu... khi có nhu cầu.

Tháp có chín tầng; tầng trệt tứ giác rộng 16m2 thiết kế 50 bàn đọc sách cá nhân (có đèn riêng từng bàn) để bạn đọc vãng lai mượn sách ngồi đọc tại thư viện.

Các tầng 2, 3, 4 có kệ chứa gần 10.000 bản kinh sách chữ Việt gồm: kinh luật luận, văn học, triết học, lịch sử, văn hóa, giáo dục... và các loại sách kiến thức phổ thông.

Từ tầng 5, 6, 7 và 8 tàng trữ các bộ Đại tạng kinh, Luật và Luận bằng các ngôn ngữ Anh, Trung Quốc, Pali, Nhật, Thái, Miến v.v...

Từ hai tháp phía trước nối liền hai dãy nhà dẫn đến 2 tháp phía sau. Giữa hai dãy nhà dẫn có bốn tháp nhỏ tôn trí bốn vị Bồ tát: Đại trí Văn Thù, Đại hạnh Phổ Hiền, Đại Thế Chí và Địa Tạng.

1.2. Hai ngôi bảo tháp phía sau

* Bên phải là "Tháp Hồng Ân", gồm mười ba tầng, nền rộng 16m x 16m, cao 49m.

Tầng 13: Tôn trí Xá-lợi Phật Thích Ca Mâu Ni và các Thánh Đại đệ tử.

Tầng 12: Tôn trí Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, 10 vị Trưởng lão Tăng và 10 vị Trưởng lão Ni, các ngôi tịnh xá ở Ấn Độ tiêu biểu cho ba ngôi báu Phật Pháp Tăng.

Tầng 11: Tôn trí bảo tượng Tổ sư Minh Đăng Quang, danh hiệu 20 ngôi tịnh xá đầu tiên, các vị Trưởng lão Tăng và các vị Trưởng lão Ni, Trưởng tử đầu tiên của Tổ sư.

Tầng 10: Tôn trí chân dung Nhị Tổ Giác Chánh và hành trạng lập đạo, hành đạo của chư Tôn đức Tăng Giáo đoàn I.

Tầng 9: Tôn trí chân dung Trưởng lão Giác Tánh, Trưởng lão Giác Tịnh và quá trình thành lập Giáo đoàn, hành đạo của chư Tôn đức Tăng Giáo đoàn II.

Tầng 8: Tôn trí chân dung Trưởng lão Giác An và quá trình thành lập Giáo đoàn, hành đạo của chư Tôn đức Tăng Giáo đoàn III.

Tầng 7: Tôn trí chân dung Đại lão Hòa thượng Pháp sư Giác Nhiên và quá trình hành đạo của Ngài trong nước và hải ngoại.

Tầng 6: Tôn trí chân dung Hòa thượng Giác Phúc và chư Tôn đức Giáo đoàn IV.

Tầng 5: Tôn trí chân dung Đức thầy Giác Lý và quá trình thành lập Giáo đoàn, hành đạo của chư Tôn đức Tăng Giáo đoàn V.

Tầng 4: Tôn trí chân dung Hòa thượng Giác Huệ, Hòa thượng Giác Đức và quá trình thành lập Giáo đoàn, hành đạo của chư Tôn đức Tăng Giáo đoàn VI.

Tầng 3: Tôn trí chân dung Ni trưởng Huỳnh Liên và chư Ni trưởng Giáo đoàn Ni giới Khất sĩ.

Tầng 2: Tôn trí chân dung Ni trưởng Ngân Liên và Ni trưởng Trí Liên cùng các Phân đoàn, Hội chúng Ni.

Tầng 1: Giới thiệu chung về các hoạt động Phật sự của Hệ phái.

* Bên trái là “Tháp Tứ Ân”, tương tự như ngôi bảo tháp Hồng ân, bảo tháp Tứ Ân cũng có 13 tầng. Tầng trên cùng, tôn trí Tam tôn theo ý nghĩa Phật – Pháp – Tăng.

Tầng 13: Lưu giữ bảo tượng Đức Phật Tổ Thích Ca và Tổ sư khai sơn “Ánh Minh Quang – Nhật nguyệt hồng…” đã hiện hữu với ngôi Pháp viện trên bãi rác dòng đời gần tròn 50 năm (1968 - 2017).

Tầng 12: Tôn trí chư Tổ khai sơn Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ I đến thời Lý-Trần, Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử.

Tầng 11, 10 và tầng 9: Tôn trí tổ tiên nòi giống Rồng Tiên: Lạc Long Quân – Âu Cơ; Mười tám đời vua Hùng Vương và 54 dân tộc anh em.

Tầng 8, 7, 6, 5, 4, 3 và tầng 2: Thờ linh cốt ông bà cha mẹ (Cửu huyền Thất tổ).

Tầng trệt: Làm nhà tang lễ “Vãng sanh cực lạc”, dành cho bá tánh thiện duyên quàn tại đây trước khi tiễn biệt trà tỳ:

“Sống thì ăn mặc lo toan

Chết thì một chút tịnh nhàn thiền môn

***

‘Vãng sanh cực lạc’ nguyện hồn

Phật Di Đà độ... thoát hờn thiên thu”.

2 tháp trước bát giác, 9 tầng, cao 37m

2 tháp sau tứ giác, 13 tầng, cao 49m

Trước sau 4 tháp, biểu tượng Tứ thiên vương hầu Phật là ngôi Chánh điện ở giữa – trung tâm ngôi Pháp viện.

1.3 Ngôi Chánh điện – Đại hùng bảo điện

Trung tâm khuôn viên Pháp viện là ngôi Đại Giác điện 3 tầng lầu và 1 tầng hầm trên diện tích 5.000m2.

1.3.1. Mặt bằng tầng hầm

Tổng thể mặt bằng tầng hầm gần 5.000m2, phân nửa phía trước 44m2, phân nửa phía sau 52m2., đáy hầm bê tông 0m50, phân nửa mặt bằng tầng hầm sử dụng các mặt hậu cần và trai đường nội bộ.

1.3.2. Tầng trệt - Giảng đường và Khách đường

Tầng trệt , phía trước dài 56m làm Giảng đường, mặt sau dài 24m làm Khách đường “Linh Sơn pháp lữ”. Bên ngoài hành lang rộng 8m dọc theo suốt Giảng đường và Khách đường.

1.3.3. Tầng 2 - Thiền đường và Niết bàn đường

Tầng 2 làm Thiền đường, dài 30m và Niết bàn đường dài 22m, trần cao 7m; nửa phần trên vách khắc phù điêu ảnh minh họa 33 vị thiền sư Ấn – Hoa nối pháp trong lòng Thiền đường và Niết bàn đường để Phật tử tu tập có thể chiêm bái, quán niệm.

Giữa Thiền đường tôn trí bảo tượng Đức Phật, cao 4m50, nặng 4 tấn 5, cầm cành sen uy nghi chiếu diệu; phía sau Niết bàn đường thờ Đức Phật tĩnh tại Niết bàn dài 4m9.

1.3.4. Tầng 3 - Đại hùng bảo điện (Chánh điện)

Tầng 3 là ngôi Chánh điện – Đại hùng bảo điện, kiến trúc mô hình bát giác, cao bảy tầng mái, biểu tượng cho Bát chánh đạo và Thất bồ đề phần lan tỏa che mát hồng trần.

Giữa Chánh điện là ngôi Tam bảo tam cấp, tôn trí Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng cao 7m2, nặng 7 tấn 2. Ngôi bảo tháp bằng gỗ cao 12m, tầng dưới tứ giác cao 8m, có khắc chạm tứ trụ hoa sen xung quanh; trên nóc cao 4m, với 13 tầng mái , biểu tượng Lục phàm, Tứ thánh, Tam tôn.

Tám vách xung quanh điêu khắc, minh họa tám bức phù điêu về cuộc đời Đức Phật từ Đản sanh đến Xuất gia, Thành đạo, Chuyển pháp luân và Nhập Niết bàn rất sinh động và trầm lắng thiêng liêng.

1.3.5. Gác lững - Phòng trụ xứ và vãng lai chư Tăng, chư Ni

Dọc theo hai bên hành lang Giảng đường và Thiền đường có 3 tầng gác lững; mỗi tầng có từ 4 đến 8 phòng; bên trái chính tòa có 24 phòng dành cho chư Tăng và bên phải có 24 phòng dành cho chư Ni.

Thông thường có một ít phòng đặc biệt dành cho chư Tôn đức Giáo phẩm, phần còn lại có 2 loại: Phòng Giáo phẩm (vãng lai) từ 4 đến 6 vị; Phòng Đại chúng (vãng lai) từ 8 đến 12 vị.

1.4.Tòa Cửu phẩm "Tây phương Cực lạc" và thờ cúng Cửu huyền Thất tổ

Mặt hậu phía sau Chánh điện, đối diện với Khách đường "Linh Sơn pháp lữ", nối liền hai tòa tháp "Hồng Ân" và "Tứ Ân" là tòa nhà thờ "Cửu huyền thất tổ". Nét mới ở đây là tòa nhà 5 tầng.

Tầng cao nhất có danh hiệu Tây phương Cực lạc, gian chính giữa tòa thờ Tây phương Tam thánh: Bảo tượng Đức Phật Di Đà, nhị vị Bồ tát hầu cận là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí.

Từ trong nhìn ra, bên tay phải thờ Thập đại đệ tử và 7 vị Tổ sư lâu đời của Phật giáo Việt Nam: Khương Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường; Trần Nhân Tông (Điều ngự Giác Hoàng), Pháp Loa và Huyền Quang.

Bên tay trái chính tòa là điện thờ Tổ sư Minh Đăng Quang, Nhị tổ Giác Chánh và 15 vị Giáo phẩm Hệ phái: Trưởng lão Giác Tánh, Trưởng lão Giác Như, Trưởng lão Giác Tịnh, Trưởng lão Giác An, Trưởng lão Giác Nhiên, Trưởng lão Giác Lý, Trưởng lão Giác Trụ, Trưởng lão Giác Nhơn, Trưởng lão Giác Thần, Trưởng lão Giác Hải, Trưởng lão Giác Hòa, Trưởng lão Giác Thanh, Trưởng lão Giác Bửu, Trưởng lão Giác Lập, Hòa thượng Giác Đức...

Cả ba tượng Tam Thánh và các ảnh thờ đều được tạc bằng gỗ dâu và giáng hương.

Tầng 4, tôn trí thờ Cửu huyền thất tổ. Chính tòa thờ Giác linh chư Tôn thiền đức; hai phía tay phải và tay trái thờ chư hương linh nam và nữ.

Các tầng 3, tầng 2, tầng 1 (tầng trệt) dùng làm phòng khách Phật tử vãng lai tu tập bát quan trai hàng tuần, hàng tháng.

2. Ý nghĩa một công trình kiến trúc: Đóa sen thiêng trên quê hương hòa bình

Pháp viện Minh Đăng Quang tọa lạc tại số 505, Xa lộ Hà Nội, phường An Phú, Quận 2 (ngay chân cầu vượt, ngã ba Cát Lái), ngay cửa ngõ thành phố xuôi ngược Bắc - Nam.

Bất cứ ai đã từng ra vào Thành phố Sài Gòn - Gia Định trước năm 1975, hay sau ngày đất nước hòa bình độc lập đều nhớ, đều biết: Từ chân cầu Sài Gòn nay là Xa lộ Hà Nội ra đến ngã ba Cát Lái là một cánh đồng lúa bạt ngàn, từ khu đất Pháp viện nằm sát ngã ba Cát Lái ngó về chân cầu Sài Gòn không một chùm cây, không một mái nhà.

Nhưng từ năm 1968, khu đất Pháp viện được dựng lập thì sau đó từ năm 1970 đến năm 1975, tại nơi đây một bãi rác lớn ngay cửa ngõ thành phố ngày càng hiện hữu, nối liền từ thời còn chiến tranh qua thời hòa bình (từ năm 1968 đến năm 1978). Năm 1978 là năm cao điểm bá tánh lao động nghèo khoảng trên dưới 10 ngàn người tụ tập lượm rác phế thải bán tái chế.

PV VuGiang2017 3

Rồi từ năm 1980 đến năm 2008, trong gần 30 năm đất nước từ ngày chuyển mình xây dựng hòa bình, phát triển thì đất Pháp viện Minh Đăng Quang trở thành một khu vườn bạch đàn xanh tươi, mát dịu.

Và từ đầu năm 2009, dân chúng đi qua lại trên xa lộ xuôi ngược Bắc - Nam từng ngày chứng kiến một công trình kiến trúc Phật giáo đồ sộ hiện hữu sau gần tròn 8 năm thi công - một ngôi Chánh điện - Đại Giác điện 3 tầng uy nghi với 4 ngôi tháp ở 4 góc chùa, biểu tượng Tứ thiên vương hầu Phật, tọa lạc hữu tình nơi cửa ngõ ra vào thành phố.

Nhiệm mầu thay, năm mươi (50) năm

Cánh đồng xưa đã âm thầm nở hoa

Mười năm bãi rác chan hòa

Giải cơn thắt ngặt vượt qua biển nghèo

Giữa trời mưa nắng cheo leo

Bạch đàn, rau muống... lần theo thanh bình

Năm mươi (50) năm đời khương ninh

Đóa sen thiêng... đẹp hữu tình ngày đêm

Cửa ngõ thành phố uy nghiêm

Một niệm lành, rực bóng thiền nhàn vui

Bắc - Nam xuôi ngược ngọt bùi

Một niệm lành, chúc người người hanh thông

Dù đi Nam, Bắc, Tây, Đông

Một niệm lành, nhẹ mát lòng bình yên

Nguyện cầu một đóa sen thiêng...

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

PV.MĐQ - Q.2, tháng 6 năm 2017

Trụ trì PV. Minh Đăng Quang

HT. Giác Toàn

***************

MINH DANG QUANG DHARMA INSTITUTE

505 Hanoi Highway, An Phu Ward, District 2, Ho Chi Minh City

- Year of Establisment: 1968

- Founder: His Holiness the Great Dharma Preacher Giác Nhiên – General Excecutive of the Sangha of Buddhist Mendicancy Tradition of Vietnam.

- Former Title of the Organization: Sangha of Buddhist Medicancy Tradition of Vietnam.

- Present Status: The Sect of Buddhist Mendicancy Tradition of Vietnam (SBMTV) - Founding Member of Vietnam Buddhist Sangha (VBS).

- Feature: Residence of the Elders in Charge of SBMTV.

(Center of Dharma Propagation, Education, Social and Cultural Activities.

- Head of the Institute: Most Venerable Giác Phúc - Member of Coucil of Supremme Patriarch of VBS.

- Former Abbots:

+ Most Ven. Giác Phúc (1968-1988)

+ Most Ven. Giác Huyền (1989-1994)

+ Most Ven. Giác Lai (1994-2014)

- Present Abbot: Most Ven. Giác Toàn (since 2014)

Vice President ofExecutive Council of VBS

Standing Deputy Head, Department of Buddhist Education of VBS.

Standing Deputy Head, Excecutive Council of SBMTV.

- Number of Monks who are residents and of monks who are staying for studying at Buddhist schools in Ho Chi Minh City: about 50.

Number of Lay Buddhists who participate in regular and sporastical activities such as alms-giving, Listening to Dharma Talks, Sutta Chanting and Repentance rituals: from 200 up to 500.

- Number of Lay Visitors in Major Buddhist Festivals and Events: from five thousands up to ten thousands.

YEARLY BUDDHIST FESTIVALS

1. First day of January (lunar calendar): Day of Vietnamese Traditional New Year.

2. 14th and 15th days of January (lunar calendar): Superior Full Moon Day.

3. 30th of January and 1st of February (lunar calendar): Great Memorial Days of Disappearance of Minh Dang Quang, the Founder Patriarch of SBMTV.

1. From 8th to 14th of April (lunar calendar): International and nationwide Vesak Day.

2. From 16th of April to Full Moon of July (lunar calendar): Yearly Three-month Raining Retreat of SBMTV.

6 . From 18th to 24th of April (lunar calendar): Supplementary Seven-day Teaching Course for Venerable Monk and Nun Abbots of SBMTV.

7. 19th of February, June and September (lunar calendar): Days of Avalokitesvara Bodhisatva. Especially, 19th of June is the Memorial Day of His Holiness the Great Dharma Preacher Giác Nhiên.

8. From 1st to 8th of July (lunar calendar): Seven-day Supplementary Training Course for Sikkhamānās, Monk and Nun Novices and Apprentices of the SBMTV.

9. 14th and Full Moon Day of July (lunar calendar): Traditional Sangha Pavāraṇā Day.

10a. Monthly Full Moon Day and Last Day of Each Month: The Puja ceremonies featured by SBMTV.

10b. Every Sunday: Retreats for Lay people:

- Retreats of One Happy Day, Recollection of the Buddha, Tranquility and Insight Meditation.

- Retreats for College Students.

ARCHITECTURAL PARTICULARITIES AND THEIR CONNOTATIONS

1. Generality of the Architectures

The Minh Đăng Quang Dharma Institute (MDQDI) is located on a piece of land of 37,500 square meters of which 22% is construction coverage. The total constructed floors is approximately 30,000 square meters.

From the outdoor inward (foi), in the middle of the front fence wall is the sign “Minh Đăng Quang Dharma Institute” of 9 meters in length and 6 meters in width. There are two three-gate entrances on the left and the right, each one is 14 meters in width. The widths of the gate are 3, 8.2 and 3 meters, respectively. In the front yard, there is a worshiping place of Metteya Bodhisatva where pilgrims and visitors can visit, pay homage and pray for their good luck and happiness. After the right entrance, foi, visitors can see on the right hand the Avalokitesvara Bodhisatta’s statue, 9 meters in height, symbolizing the boundless loving-kindness and compassion. The Bodhisatva is seen as a godlike beneficial mother for all sentient beings. She always protects, gives happiness to and relieves suffering from her children – people living in this world.

1.1. Two Front Towers

The next architectures are the two front towers. On the right, foi, is the Mahā Kassapa Tower. It is named after the disciple who is famous for the the thirteen kinds of austere practices (Dhutaṅga). This nine-floor tower, which is for outlining with the noted episodes the overall history of SBMTV, is in the octagonal form, implying Noble Eightfold Path, it is 37 meters in height implicative of 37 Enlightenment-supporting Factors. The 256 square-meter ground floor displaces the selected biographical photos of the founder Patriarch who initiated the BMTV, later named the Sangha of Buddhist Mendicancy Tradition of Vietnam, and presently known as the Sect of Buddhist Mendicancy Tradition, one of the nine founding members of Vietnam Buddhist Sangha (1981). From the ninth downward to the second floor, the seven previous Buddhas in the past and the Founder Patriarch Minh Đăng Quang are enshrined on the altars for worshiping:

- Vipassī Buddha

- Sikhī Buddha

- Vessabhū Buddha

- Kakusandha Buddha

- Konāgamana Buddha

- Kassapa Buddha

Tịnh xá Trung Tâm Giáo đoàn V không ngừng phát triển

Tịnh xá Trung Tâm Giáo đoàn V không ngừng phát triển

Chư Tăng  • 05/07/2017, 22:23

Tịnh xá Trung Tâm giáo đoàn V tọa lạc tại số 367/1 đường Đặng Nguyên Cẩn, Phường 13, Quận 6 TP. HCM, do cố Trưởng lão Giác Lý, một trong những cao đồ của Tổ sư Minh Đăng Quang khai sơn, xây dựng vào năm 1965.

Tịnh xá Ngọc Thiền - Lâm Đồng

Tịnh xá Ngọc Thiền - Lâm Đồng

Chư Tăng  • 05/07/2017, 22:23

Bước đến Ngọc Thiền đứng ngắm trông Đại hùng bảo điện giữa rừng thông Sơn bao trùng điệp đồi xanh biếc Thủy bọc chuyển lưu thác đổ vòng...

Tịnh xá Ngọc Viên - Vĩnh Long

Tịnh xá Ngọc Viên - Vĩnh Long

Chư Tăng  • 05/07/2017, 22:23

Tịnh xá Ngọc Viên được xem là ngôi Tổ đình và là trung tâm hoằng khai giáo pháp Khất Sĩ của toàn sơn môn hệ phái, đặc biệt kể từ sau lần đầu tiên (1949) tổ chức trọng thể Đại lễ Tự Tứ Tăng và Vu-lan-bồn trên quy mô lớn, gây ảnh hưởng rộng khắp trong sinh hoạt Phật giáo của toàn miền.

Tịnh xá Trung Tâm Giáo đoàn V không ngừng phát triển

Tịnh xá Trung Tâm Giáo đoàn V không ngừng phát triển
05/07/2017, 22:23

Tịnh xá Trung Tâm giáo đoàn V tọa lạc tại số 367/1 đường Đặng Nguyên Cẩn, Phường 13, Quận 6 TP. HCM, do cố Trưởng lão Giác Lý, một trong những cao đồ của Tổ sư Minh Đăng Quang khai sơn, xây dựng vào năm 1965.

Tịnh xá Ngọc Thiền - Lâm Đồng

Tịnh xá Ngọc Thiền - Lâm Đồng
05/07/2017, 22:23

Bước đến Ngọc Thiền đứng ngắm trông Đại hùng bảo điện giữa rừng thông Sơn bao trùng điệp đồi xanh biếc Thủy bọc chuyển lưu thác đổ vòng...

Tịnh xá Ngọc Viên - Vĩnh Long

Tịnh xá Ngọc Viên - Vĩnh Long
05/07/2017, 22:23

Tịnh xá Ngọc Viên được xem là ngôi Tổ đình và là trung tâm hoằng khai giáo pháp Khất Sĩ của toàn sơn môn hệ phái, đặc biệt kể từ sau lần đầu tiên (1949) tổ chức trọng thể Đại lễ Tự Tứ Tăng và Vu-lan-bồn trên quy mô lớn, gây ảnh hưởng rộng khắp trong sinh hoạt Phật giáo của toàn miền.