Pháp Chánh Giác

Ban TT-TT Hệ phái 26/08/2022, 08:05

PHÁP CHÁNH GIÁC 

Tác giả: Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang

NT. TUYẾT LIÊN chuyển thơ 

---o0o---

Tứ diệu đế sanh pháp chơn

Pháp là chánh giác của trong tứ đề

Tứ diệu đế ví như dùi

Cõi đời mặt trống, Phật người chỉ ra

Dùi chạm mặt tiếng vang xa

Tiếng ấy là pháp diễn ra trong đời

Còn chúng sanh là những người

Được nghe chánh pháp ngộ rồi pháp tu

Tứ diệu đế bốn pháp mầu

Khổ, tập, diệt, đạo ý sâu vô cùng

Thương đời khổ Phật dạy rằng

Nầy là khổ, vấn đề cần tư duy

Nguyên nhân sanh các khổ nầy

Là do tập khởi như vầy quán soi

Nầy là pháp diệt khổ rồi

Đề mục diệt, nên kịp thời hiểu ra

Nầy là đạo đế dung hòa

Vấn đề, đề mục để mà huân tu

Đạo con đường chánh thanh cao

Đưa đến tận diệt khổ đau luân hồi

Diệt tập nhân gây khổ đời

Khổ là bởi tập luân hồi thành quen

Khổ, tập, diệt, đạo bốn tên

Bốn vấn đề cần phải nên nhận nhìn

Đề mục dùi trống phát sinh

Là do cái khổ nhân sinh cõi đời

Pháp giác ngộ chỉ cho người

Thấy rõ mặt trống cõi đời duyên do

Phật giống trống pháp chỉ cho

Con đường thoát khổ để lo tu hành

Tiếng trống chính là diệu âm

Sư tử âm, hải triều âm dạt dào

Tiếng trống có đủ ba hồi

Lại thêm chín chập để bồi nhân duyên

Tam thừa, cửu phẩm diệu huyền

Đây là lối thoát cắt duyên khổ sầu

Tứ diệu đế, như bốn căm

Của bánh xe pháp thường năng vận hành

Tam thừa, cửu phẩm có sanh

Ba vòng chín lớp tựu thành theo nhân

Cõi đời mặt đất cảnh trần

Phật là người chủ chuyển vần xoay quanh

Chơn như trụ cốt an lành

Chúng sanh là kẻ bộ hành đang đi

Thùng xe chỗ chứa tiện nghi

Phật làm phương tiện trong khi độ đời

Đưa về cực lạc thảnh thơi

Xe có bánh nên chuyển dời lăn xoay

Có căm mới chạy đông tây

Chơn như làm cốt, sanh căm tứ đề

Tứ đế chánh pháp chuyển mê

Chúng sanh nương đó mà về nẻo chơn

Niết bàn thùng xe chánh chơn

Là chỗ đựng chứa đưa lên nẻo lành

Giải thoát khổ não tử sanh

Về nơi cực lạc hóa thành bên kia

Sự cố gắng như con bò

Nguyện lực ví dụ như là dây cương

Roi thúc dục bò lên đường

Nguyện lực như thể dây cương buộc ràng

Chăm chỉ đi tới niết bàn

Ba vòng chín lớp vận hành từ xưa

Đường còn ghi dấu chân xưa

Pháp chánh giác cho chúng sanh nương về

Nầy bốn xứ niệm cận kề

Thân thọ tâm pháp lối về chánh chân

1.       Ta hằng niệm tưởng đến thân

Tìm xét thấy rõ tận căn cội nguồn

Thân là thay đổi vô thường

Chớp bóng, huyển hoặc, mù sương, mơ hồ

Thân là tứ đại hữu vô

Đừng tham chấp, một đống đồ hợp tan

Rồi có ngày sẽ rã tan

Thoạt còn, thoạt mất mơ màng chiêm bao

Tứ đại duyên hợp cùng nhau

Thành một thân sống, khổ đau bắt đầu

Sáu căn tay chân mình đầu

Có sống, linh, biết, lửa cầu đưa duyên

Lửa tắt, duyên hết, nghĩ yên

Như xe máy chạy hơi chuyền, bánh lăn

Có trớn có đủ dầu xăng

Thì nó chạy mãi thời gian lâu dài

Nhưng rồi sẽ có một ngày

Máy mòn tan rã xe nầy hoại hư

Thân cũng thế nó giống như

Vi trùng kết tụ đấu tranh lâu dài

Bên thắng, bên thua chạy dài

Rã hàng tan ngũ lâu ngày mất luôn

Các pháp dung hợp có thân

Nhơn duyên sanh khởi lần lần đổi thay

Cái nầy, cái nọ đổi thay

Cái kia, cái khác nay mai đổi dời

Sắc ấm là thân trong đời

Là trung đạo giữa hai bờ có không

Hợp nên có, tan nên không

Thân là vỏ tạm, nuôi thân hột nầy

Thân vỏ mất, tâm hột còn

Cây sanh nhánh lá, rốt tồn hột tâm

Nguồn cội có, giáo lý sanh

Các pháp, trí huệ thân tâm ta người

Thân là vật tạm trong đời

Như lỗ cống, như rác đồ bẩn dơ

Hang sâu, hố độc lửa hừng

Như con ngạ quỷ, hung thần gớm ghê

Lớn như biển cả hư vô

Nhỏ như kim nhuyển mơ hồ như không

Thân như lầu ngọc, núi châu

Đền vàng, ao bạc kim cương trong đời

Thân tai họa, thân thúi hôi

Ích lợi vô hạn, độc thời vô biên

Gọi nó là gì tùy duyên

Như mặt đất chứa không riêng thứ gì

Danh từ pháp lý chi chi

Tên gì cũng được phải tri vô thường

Phải hiểu tánh nó không bền

Không là ta, không của ta chớ lầm

Chớ nên cố chấp thích ham

Tự cao luyến ái mà nên nhận nhìn

Biết ra chủ tể nơi thân

Tìm xét coi cái nguyên nhân chỗ nào

Như một đống lửa cháy cao

Tìm coi biết rõ nhân nào gây nên.

Nguyên liệu nào lửa cháy bền

Nhận ra thấy được ta liền dứt mê

Giác ngộ thấy rõ đường về

Không bị cái sắc phủ che tinh thần

Thân không có, thân không bền

Dứt được sở chấp tâm hồn tự do

Không cần biết thân là chi

Tâm được an ổn oai nghi rỡ ràng.

2.       Ta hằng niệm thọ trong thân

Tìm xét thấy rõ thọ trần không vương

Bởi có thân, thọ gá nương

Không thân thì thọ cũng dường như không

Khi có việc, tạm dùng thân

Khi hết việc, chẳng có thân thọ gì

Lúc cần dùng, ta tùy nghi

Hết dùng hủy bỏ có thì như không

Có lúc thân như kim cương

Lúc như thây chết sình chương ngoài đồng

Nó hợp với trẻ con đông

Với ông già lão nó thường bỏ đi

Có thân, có bệnh thường khi

Thái quá bất cập bệnh thì phát sanh

Bệnh nương gá thân hình thành

Dùng thân nuôi bệnh, hết dùng bỏ đi

Người nói nuôi bệnh ngẫm suy

Bệnh không có hết khi thì còn thân

Trong đời không có xác thân

Không bệnh hoạn, như nạn nhân giữa đời

Thân, bệnh là pháp đổi dời

Các tánh chất ở trong đời tạo sanh

Các vi trùng bệnh hoành hành

Một may, muôn rủi phải đành mà thôi

Trẻ nhỏ nào cũng ham chơi

Là nhân tạo bệnh, chiêu vời bệnh duyên

Không ai muốn bệnh, muốn phiền

Bệnh là không có, không bền như ma

Lúc có, lúc không rầy rà

Thân không, bệnh do đâu mà phát sanh

Quán suy thấu hiểu đành rành

Dứt được niệm bệnh, bệnh thành như không.

Bệnh không làm ta nãn lòng

Thân đâu hết bệnh, không cần quan tâm

Mà ta nên nhớ nghĩ rằng

Dùng thân tạm để nuôi tâm trưởng thành

Ngày kia mục đích đã thành

Trí đầy, tâm đủ đâu cần đến thân

Bệnh không ảnh hưởng tinh thần

Can đảm lướt tới, tựu thành thắng duyên

Dứt niệm bệnh, hết não phiền

Tinh thần hăng hái không phiền, không ưu.

3.       Ta hằng niệm tưởng ý căn

Tìm xét thấy ý cũng là không không

Chấp sống nên sợ tử vong

Sợ mất thân, nên ý hằng khởi lên

Sợ già, sợ bệnh triền miên

Mãi mê vọng, ý nói làm theo duyên

Ý có do bởi sáu căn

Ý thái quá bất cập gần một bên

Tương đối không định, không bền

Tốt xấu, dơ sạch, như hình huyển ma

Ý tham sân si rầy rà

Ý giới định huệ như là báu châu.

Nơi đứa bé thọ làm đầu

Thân thọ không có ý đâu còn gì

Còn ý, khổ còn kéo trì

Hết ý, hết khổ lấy gì gọi ta

Ý là giặc, ý là ma

Ý là bệnh, của tâm tà ác sanh

Là thầy hướng đạo dạy lành

Cũng là kẻ dẫn vào đàng ngục môn

Ý theo cảm giác sinh tồn

Vốn không thông sáng cũng đồng vô minh

Ý trình độ tạm chúng sinh

Khi đến trí giác, ý tình hoàn không.

Ý có do tưởng, thú cầm

Đến lớp người, ý tập hành nhớ lo

Đến trời thì ý chết co

Đến Phật diệt tận, ý là không không

Theo lẽ tấn hóa đại đồng

Ý không tồn tại, theo dòng thời gian

Trẻ sanh ý, lớn ý còn

Già thì ý hết buộc ràng vấn vương

Kẻ muốn tấn hóa vượt lên

Không bảo thủ ý chấp nương thọ tình

Bỏ quên, ý mất không sinh

Thân còn không có ý nương đâu tồn

Niệm như thế, khiến tinh thần

Cứng cõi, dõng mãnh lực hùng phát sanh

Dứt được niệm ý tiêu tan

Không còn chấp ý dứt đàng trầm luân.

4.       Pháp là phương pháp cảnh trần

Ta niệm tưởng pháp ngộ lần theo duyên

Có thân, thọ, ý gá nương

Pháp tùng theo đó tâm vương biến hành

Pháp có ác, thiện, chánh chân

Pháp là kinh nghiệm, công năng, luận bàn

Chỉ giải hướng dẫn rõ ràng

Pháp là luật pháp, con đàng kỹ cương

Pháp có, do ý dẫn đường

Hết ý, hết pháp tự nhiên yên bình

Pháp là huyển dối, danh xưng

Như ngón tay chỉ, đồ dùng, bè đưa

Hết việc rồi sẽ bỏ đi

Nhờ pháp trí huệ đủ đầy chơn như

Pháp là sự học ban đầu

Cho người cái giác, hiểu sâu cuộc đời

Có thân, thọ, ý gọi mời

Mới có pháp, thân, thọ rồi huyển mơ

Thân không, thọ ý không ngơ

Pháp nương đâu có, bấy giờ đều không

Các cái ấy nó tạo lần

Cái ta thành tựu, các nhân tiêu hình.

Như tứ đại kết thành thân

Sau thân có, chỉ biết thân đủ rồi

Ta, chơn như, định là tôi

Như nhiên chơn thật, vun bồi biết linh

Cái ta là cái thật tình

Thường bền bất biến, thọ tình thì không

Do thân thọ ý pháp sanh

Còn thân, còn ý thọ tình gá nương

Còn thì khổ não vô thường

Hết thì hết khổ, pháp dường như không

Pháp là cái chấp viễn dông

Vô thường, tương đối, có không đổi dời

Không ta, không của ta rồi

Pháp nương đâu có, ta người ở đâu

Pháp tà là pháp khổ sầu

Pháp chánh là pháp nhiệm mầu an vui

Trung đạo giải thoát thông lưu

Pháp tà biên kiến gọi mời tử sanh

Tà pháp, chánh pháp mông lung

Không căn, không gốc tạm dùng tùy duyên

Bình thường mỗi lúc tự nhiên

Như không có, lúc gặp duyên lộ hình

Nên gọi pháp không chỗ nương

Niệm tưởng như thế tâm thường định an

Lấy định làm tâm hàm tàng

Không còn lầm chấp mơ màng có không

Chấp lầm khổ não vô cùng

Bị pháp mê hoặc chơn tâm đâu còn

Chơn tánh võ trụ bình thường

Mới có sống biết, mới thường tự tin

Mới thật có sống, biết, linh

Là vô năng sở, pháp tình hết trơn

Tâm như thế như kim cương

Thời gian vạn vật không làm chuyển lay

Dứt đặng niệm pháp xưa nay

Không còn chấp pháp tâm rày an nhiên

Thân, thọ, ý, pháp là duyên

Là bốn ý pháp còn thiên bên lề

Bốn cõi đọa lạc chấp nê

Như tứ chi, không phải là trái tim

Bốn cảnh huyển ma đảo điên

Không nên quyến luyến, cái triền khổ vui

Thì tâm mới được yên vui

Trí mới rộng sáng thành người trượng phu

Dứt đoạn niệm thân ban đầu

Thọ  ý pháp cũng một mầu thanh lương

Là bốn dứt đoạn phi thường

Giúp người giải thoát khỏi đường tử sanh

Cảnh giới chơn như tựu thành

Không chi ngăn ngại, tựu thành bốn thông

1.       Bởi không còn cái sắc, không

Cái có che đậy, định thần thấy xa

Nhờ dứt đoạn bốn niệm tà

Tâm hằng định, thần đủ và linh thiêng

Điện lực mạnh mẽ vô cùng

Đắc được đạo nhãn dung thông xa gần

Mắt trần, mắt thần linh thông

Từ nơi mắt thịt nhìn trông khắp cùng

Chánh tín là nhân thành công

Trời, thần, pháp, huệ cũng không xa rời

2.       Dứt đoạn thọ được thảnh thơi

Thái quá bất cập sự đời có không

Thọ chuyền níu không cản ngăn

Tai trí thông suốt tiếng tăm, cõi đời

Vạn vật chúng sanh đổi dời

Nhờ dứt bốn niệm thảnh thơi trí lòng

Tâm hằng định, thường linh thông

Tai đạo nghe suốt khắp cùng

Tại nơi tai thịt niệm lòng chánh chơn

3.        Bởi dứt đoạn ý sạch trơn

Không còn phiền não là nhân đoạn lìa

Xa khác hẳn thế gian kia

Trí phân biệt, đã phân chia tỏ tường

Thấy rõ trong ngoài pháp nương

Nhờ trong chỗ định thấy tường bất an

Trong chỗ kín thấy rõ ràng

Trong chỗ trống hở, lại càng định tâm

Nhờ sự kín đáo âm thầm