LỜI TỰA
Kinh Pháp Bảo Đàn có ghi: Một lần nọ, Thiền sư Huệ Năng ở lại chùa Pháp Tánh - Quảng Châu, tối đến gió nổi lên, làm lay động cây cờ trong chùa, phát ra âm thanh lật phật. Hai vị Hoà thượng trong chùa đã tranh luận về điều này, một vị nói lá cờ lay động, một vị nói gió lay động, họ cãi nhau không thôi. Thiền sư Huệ Năng thấy tình hình như vậy bèn bảo rằng: “Không phải gió động, cũng không phải lá cờ động mà tâm của các ngươi động thôi!”.
Câu thiền ngộ kinh điển này của ngài Huệ Năng đã chỉ thẳng vào tâm linh con người, hàm ý rằng tất cả những chấp trước đối với thế giới bên ngoài đều chỉ là những biến hiện của tâm, tất cả vọng niệm đều chỉ là những vật trong tâm, cũng như nói: “Rượu không làm người say mà do người tự say, sắc không làm cho người mê đắm mà do người tự mê đắm”.
Thiền là dịch âm của từ “Thiền Na” trong tiếng Phạn, nghĩa là “Tĩnh Lự”, chính là dùng phương pháp ngồi yên tĩnh tư duy để đạt được đại triệt đại ngộ.
Thiền là cánh cửa mở ra con đường giải thoát tâm linh. Cuộc sống là một loại nghệ thuật, mà thiền là trí tuệ cao tột để tìm tòi nghiên cứu ý nghĩa cuộc sống của con người. Trong cõi hồng trần nhốn nháo, trong sự giao tế rối ren này, giải thoát bản thân như là một cảnh giới, mà thiền có thể cày xới miếng ruộng mới mẻ xanh tươi cho chúng ta, để cho tâm linh như cá bơi dưới nước, chim bay trên bầu trời, tự nhiên, tự do, tự tại không bị hệ luỵ ngoại vật, từ đó mà toả ra sắc màu của cuộc sống.
Thiền có thể giúp chúng ta tìm ra mảnh vườn an vui đã bị mất của tâm linh. Trong xã hội vật chất và dục vọng điên đảo này, con người tâm linh trống rỗng, tinh thần bị ức chế không phải là số ít, tâm con người nông nổi, lãnh đạm, thờ ơ. Chủ nghĩa công lợi đang ăn mòn linh hồn của mỗi con người. Con người ít có thời gian rảnh rỗi để tìm hiểu nghiên cứu ý nghĩa và giá trị của sự sinh tồn, dần dần trở thành kẻ nô lệ của vật chất. Thiền như mưa móc, như gió mát, như đòn cảnh tỉnh làm cho cuộc sống của chúng ta tỉnh giác nhanh chóng triệt để, khiến cho chúng ta đang đi trên đường mê biết quay đầu lại; giúp cho tâm linh của chúng ta bước vào cảnh giới tự do giải thoát; sống cuộc đời với tâm bình thường thoải mái, tự tại. Thiền giúp cho mọi người có đôi mắt trí tuệ, nhìn sâu thấy xa để quán chiếu nhân sinh. Trong trách nhiệm mong được đầy đủ, trong nghĩa vụ mong tâm được an, trong sự phụng hiến mong được hạnh phúc, trong vô ngã mong được tiến thủ, trong cuộc sống thấu hiểu được thiền cơ. Thiền đã đối diện với hiện thực, lại siêu việt hiện thực, đã xuất thế lại vừa nhập thế. Trong lúc nhập thế, hoàn thành tự ngã siêu việt của nội tại, hướng dẫn con người trong lúc tu tập trở thành những người tự do cất bước trên con đường xuất thế và nhập thế. Ngưng tụ thành thiền tông của trí tuệ phương Đông, dùng nó quan tâm đến tâm linh và sinh mạng của cá thể, dùng nó mà truy tìm cuộc sống chân thật, ngày càng phát khởi sự hứng thú và yêu thích.
Tham thiền cần phải trải qua ba loại cảnh giới, cảnh giới thứ nhất là: “lá rụng đầy trên núi, tìm dấu vết ở đâu?”, người tham thiền chấp trước truy tìm bản tánh của thiền, nhưng mờ mịt chẳng thấy gì. Cảnh giới thứ hai là: “núi vắng không người, nước chảy hoa nở”, người tham thiền hiểu sơ về thiền lý, dường như đã ngộ mà kỳ thực chưa ngộ. Cảnh giới thứ ba là: “xưa nay đều không, sáng sáng đều gió trăng”, bỗng thấy trong lòng sáng ra, trực tiếp lãnh ngộ rằng trong khoảnh khắc nháy mắt tức là vĩnh hằng, vĩnh hằng tức trong nháy mắt. Đây chính là “trong đám đông ấy tìm nàng từ bao độ, nhưng vẫn không tìm thấy, bỗng quay đầu lại, người đó lại ở nơi chốn đèn hoa hoang tàn”.
Thiền lý, xem ra có vẻ như cao thâm, nhưng hình thức của nó lại rất giản đơn và sinh động, phần nhiều là một số thiền ngộ và những câu chuyện thiền. Một năm 365 ngày, mỗi ngày cần phải “ba lần tỉnh giác về bản thân.” Quyển sách này chọn lọc ra 240 câu chuyện thiền lý kinh điển, và kết hợp với những bức tranh hoạt bát sinh động, gửi gắm thiền lý vào trong câu chuyện, trong bức tranh. Mỗi ngày ngoài giờ làm việc, pha ấm trà xanh, an nhàn ngồi một mình, gạt ra ngoài những muộn phiền của thế sự, thoải mái đọc một câu chuyện về thiền lý, từ trong đó hiểu rõ được ý vị chân thật của cuộc sống, đó chẳng phải là một cách hưởng thụ hay sao?
TRÍ TUỆ CỦA THIỀN NGỘ
TẮC THỨ NHẤT: DIỆU LÝ CỦA CHƯ PHẬT VÀ TỰ TÂM TỰ ĐỘ
Đại sư Huệ Năng là Tổ thứ sáu của thiền tông vốn là một Tiều phu nơi vùng đất hoang dã tại Lĩnh Nam. Một hôm, lúc Ngài đang bán củi trong chợ, ngẫu nhiên nghe một vị cư sĩ trì tụng “kinh Kim Cang”, không ngờ, người cực khổ một chữ cũng không biết như Ngài khi nghe được câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Nên phát khởi tâm không dính mắc vào đâu cả) mà lại hoát nhiên khai ngộ! Thế là, dưới sự chỉ điểm, khen ngợi giúp đỡ của vị cư sĩ thiện tâm này, Ngài từ biệt quê nhà, đi lên Hồ Bắc cầu pháp với Ngài Hoàng Mai.
“Bồ đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xử nhá trần ai”
(Bồ đề vốn không cây,
Gương sáng cũng không đài,
Xưa nay không có vật,
Cớ sao vướng bụi trần)
Tại chùa Đông Sơn núi Song Phụng ở Hoàng Mai Hồ Bắc (nay là chùa Ngũ Tổ), Ngài Huệ Năng nhờ bài kệ này mà lọt vào được đôi mắt sáng suốt của Đại sư Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Ngũ tổ đã đem y bát của thiền tông truyền cho Ngài. Y bát mà ngài Huệ Năng nhận được không đơn thuần chỉ là chiếc áo ca sa do Tổ sư Đạt Ma mang từ Ấn Độ đến mà là cả một toà giang sơn và là một trái phá! Tuy chiếc ca sa này các Tổ sư đời đời truyền lại cho nhau chỉ là một tín vật, cũng không phải là bản thân của Phật pháp, nhưng có nó mới có thể chứng minh bạn và Tổ sư các đời dùng tâm ấn tâm, và cùng thở một hơi thở với đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bạn chính là Tổ, bạn chính là Phật! Nhưng rất nhiều đồ đệ vì danh lợi không hiểu rõ đạo lý lấy tâm truyền tâm, tâm có sự sắc sảo của nó, mà cho rằng có được ca sa là trở thành Tổ sư, nên luôn nghĩ mưu tính kế để cướp đoạt. Vì thế y bát tương truyền xưa nay như nghìn cân treo sợi tóc! Huống hồ ngài Huệ Năng là một tiều phu xuất thân từ Nam man, một chữ cũng không biết, ngay cả điều tối thiểu là xuống tóc thì Ngài cũng chưa xuống – chưa xuất gia, lại đạt được y bát của thiền tông, người trong thiên hạ có ai mà không phục được?!”
Ngũ tổ Hoằng Nhẫn nói: “Ngay trong đêm nay ngươi nên đi nhanh đi, sợ e có kẻ sẽ hại ngươi!”
Đại sư Hoằng Nhẫn lo lắng đồ đệ không quen đường đi, đích thân đưa Ngài xuống núi. Trong đêm tối tịch mịch, hai thầy trò họ đi như bay, đi mãi cho đến bên bờ sông Trường Giang.
Sao rơi trên đồng rộng, trăng lên trên dòng sông.

Ánh trăng mờ bao trùm xuống dòng Trường Giang, càng làm cho dòng sông thêm rộng lớn, mạch nước ngầm sôi động, sóng nước cuộn trào, tất cả là một vùng thần bí, mênh mang. Đại sư Ngũ Tổ dẫn Huệ Năng đến bờ sông. Bến đò này ban ngày náo nhiệt, người qua lại rộn ràng nhộn nhịp, bây giờ vắng lạnh đón tiếp hai Thầy trò họ, chỉ có tiếng sóng vỗ vào bờ đê.
Tiếng sóng lớn ì ầm vỗ vào đêm thâu làm cho cảnh vật thêm yên tĩnh, sông vắng không người tự chèo thuyền qua sông. Hai Thầy trò vội vàng nhảy lên một chiếc thuyền con. Ngũ tổ Hoằng Nhẫn vừa đến cầm cây chèo thuyền, Huệ Năng liền nói: “Sư phụ! Xin Ngài ngồi yên, để con chèo thuyền.”
Đại sư Hoằng Nhẫn nói một lời mà nhắm đến hai việc: “Ta là Thầy, nên phải do Ta chèo thuyền đưa con đến bờ kia!”
Huệ Năng hiểu ý, cười nói: “Lúc đệ tử còn mê, phải nhờ Thầy độ, nay con đã ngộ rồi phải tự độ mình thôi”.
Đại sư Hoằng Nhẫn gật đầu lia lịa: “Tuyệt lắm! Tuyệt lắm! Phiền não của mình tự mình đoạn trừ, sanh tử của mình tự mình giải thoát. Tham thiền tu đạo, bất cứ ai cũng không thể thay thế được. Sư phụ chỉ có thể là người chỉ rõ phương hướng ở phía trước. Phải chăng có thể đạt đến sự không còn sanh diệt của bờ bên kia, chỉ có thể dựa vào sự tự độ của mỗi cá nhân. Sau này, Thiền tông phát triển rực rỡ là nhờ vào con.”
Sóng lớn cuồn cuộn như mây trời, vầng trăng sáng trong veo như chiếc thuyền, chiếc thuyền nhỏ lao vun vút như tên bắn sang bờ bên kia – Giang Châu (nay là Cửu Giang)…
Sau khi Huệ Năng đắc pháp với Sư phụ là Ngũ tổ, Sư phụ dặn Ngài không nên gấp gáp công khai thuyết pháp. Đợi thời cơ chín muồi rồi mới hoằng pháp. Vì thế, Ngài Huệ Năng từ Hoàng Mai trở về thôn Tào Hầu ở Thiền Châu mai danh ẩn tích. Ở đó có một vị Nho sĩ Lưu Chí Lược đối đãi với Ngài Huệ Năng rất nồng hậu. Tuy Lưu Chí Lược theo nghiệp Nho, nhưng gia đình của ông lại có duyên với nhà Phật.
Cô của ông xuất gia là một Ni sư sống ở chùa Sơn Giản gần thôn Tào Hầu, pháp hiệu là “Vô Tận Tạng”. Ni sư Vô Tận Tạng lấy việc trì tụng kinh “Niết Bàn” làm khoá tu hằng ngày, cho nên lúc Ngài Huệ Năng và Lưu Chí Lược đến thăm viếng, Ni sư đang tụng kinh Niết Bàn, tự nhiên cũng nói đến kinh Niết Bàn. Ni sư Vô Tận Tạng cười rạng rỡ, khiêm cung thưa với Ngài Huệ Năng: “Nghe cháu tôi nói, đối với Phật pháp Ngài nghiên cứu rất sâu. Kinh Niết Bàn này Bần ni tuy đã trì tụng nhiều năm nhưng vẫn còn có nhiều chỗ chưa hiểu rõ lắm, xin Ngài chỉ điểm chỗ mê mờ”.
Vừa nói, Ni sư vừa lấy cuốn kinh dày đưa cho Ngài Huệ Năng. Ngài Huệ Năng xua tay nói: “Hổ thẹn, hổ thẹn! Từ trước đến nay tôi chưa từng đi học, cho nên không biết chữ, càng không thể đọc kinh. Nhưng, nếu Ni sư đọc lời kinh ra, có lẽ tôi có thể giải đáp ý nghĩa trong đó cho Ni sư”.
Nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt Ni sư Vô Tận Tạng trong nháy mắt đã biến mất và chuyển thành mây đen u ám. Ni sư thu lại tầm mắt, với giọng điệu hơi trách móc, nói: “Phật cấm nói láo, cho nên người học Phật thành thật là điều đầu tiên. Ông ngay chữ cũng không biết, làm sao có thể giải thích đạo lý thâm sâu ở trong kinh văn được?”
“Chân lý của Phật pháp và văn tự không liên quan gì với nhau!”
Ngài Huệ Năng đúng là người chưa nói cho người ta kinh sợ thì chưa thôi! Lưu Chí Lược và Ni sư Vô Tận Tạng đều bị câu nói này của Ngài làm cho kinh hoàng: Cái gì? Phật pháp thần kỳ, huyền diệu và văn tự không có liên quan gì? Vậy thì, còn cần thiên kinh vạn quyển này làm gì nữa? Người xưa thập tử nhất sinh đến Tây Thiên thỉnh kinh, chẳng phải để mang về những quyển kinh sách hay sao? Hai người họ đang nhìn Ngài Huệ Năng chăm chăm giống như đang nhìn thấy quái vật. Ngài Huệ Năng lại không hiểu gì cả hít hít lỗ mũi, vừa tìm kiếm khắp nơi, vừa hỏi rằng: “Hương hoa từ đâu đến vậy?”
Ngài Huệ Năng này không chỉ là một người “có mắt như mù” mà còn giống người mù thật, ngay cả loài hoa rừng Thấu Lan Mạn Ni sư Vô Tận Tạng cúng trên bàn thờ Phật cũng nhìn mà không thấy. Ni sư Vô Tận Tạng đưa tay chỉ chỉ bình hoa cúng trên bàn thờ, nói: “Ồ! Bần ni mỗi sáng sớm đều hái hoa dại cúng Phật. Hương hoa thoang thoảng trong phòng chính là mùi hương chúng toả ra”.
Huệ Năng lại nghiêng tai, lắng nghe gì đó: “Có người đang đánh đàn ở đâu đó?”
Lưu Chí Lược nói: “Ngôi chùa này sở dĩ được gọi là chùa Sơn Giản, chính vì bên trái có một khe suối, nước suối róc rách giống như tiếng đàn. Xem kìa, chính là bên kia”. Lưu Chí Lược chỉ tay ra phía ngoài chùa.
Ánh mắt của Ngài Huệ Năng không nhìn theo hướng tay anh ta chỉ, mà chăm chú đếm đầu ngón tay của anh ta. Lưu Chí Lược vừa giận vừa buồn cười, nói: “Huệ Năng! Ông vốn là người rất sắc sảo thông minh. Hôm nay bị làm sao vậy? Ông nhìn ngón tay tôi làm gì? Ngón tay không phải là nước suối, cũng không phát ra âm thanh!”
Lúc này, Huệ Năng mới cười lớn, nói: “Các ngươi thấy không, chân đế của Phật pháp cũng giống như hương hoa đẹp đẽ thơm tho, cũng giống như tiếng động của nước chảy. Nhưng văn tự, chỉ giống như ngón tay của các ngươi chỉ cho ta xem. Ngón tay có thể chỉ ra chỗ hương hoa và nước chảy đang có mặt, nhưng bản thân ngón tay của các ngươi hoàn toàn không phải là mùi hương của hoa dại, cũng không phải là tiếng nước chảy. Vì thế, nhìn một đoá hoa đẹp, nghe tiếng nước suối chảy hoàn toàn không nhất định phải thông qua ngón tay chỉ”.
Cuối cùng, Huệ Năng tổng kết lại rằng: “Diệu lý của chư Phật, không liên quan đến văn tự, cho nên không thể chấp trước đối với kinh văn”.
Từ đó, Ni sư Vô Tận Tạng rất kính phục Ngài Huệ Năng và đã lễ bái sát đất. Ni sư khen ngợi Ngài Huệ Năng với dân chúng trong thôn rằng: “Ngài thiên cơ tự ngộ, không có Thầy mà tự thông hiểu, người thường không thể theo kịp, là bậc Đại bồ tát tái thế”.
Vì thế, dân chúng trong thôn Tào Hầu dưới sự lãnh đạo của bậc đại thiện Tào Thúc Lương, lễ thỉnh Ngài Huệ Năng vào trú trong chùa cổ Bảo Lâm rất nổi tiếng ở vùng đó.
Liên quan đến thiền cơ: Phiền Não Của Mình Tự Mình Dứt Hết
Thư sinh trẻ tuổi tánh tình thoải mái, phong lưu hào phóng, thường ngày hay rủ rê bạn bè, đứng trước gió mà uống rượu. Đám công tử bọn chúng suốt ngày ăn uống, xem ca múa, du sơn ngoạn thuỷ, há không vui sao? Việc học của chúng đương nhiên cũng dần dần lơ là. Thầy giáo của thư sinh là một Tiên sinh đạo học cứng nhắc, ân cần nhắc nhở anh ta: Rượu ngon, thức ăn ngon qua ruột là xong, âm thanh, sắc tướng ca múa càng như khói mây bay qua tầm mắt, chỉ có Thánh giáo của Khổng Phu Tử mới lưu lại ở trong tâm. Chỉ cần con có thể thể hội một cách sâu sắc những câu này thì có thể suốt đời hưởng không hết”.
Học trò gật đầu lia lịa, cúi người xuống thưa với tiên sinh: “Thưa Thầy! Thầy dạy đúng lắm, con sẽ nhớ kỹ câu nói này của Thánh Khổng!”
Thầy giáo rất lấy làm lạ, hỏi: “Ồ, thật chứ? Câu nói nào đâu?”
Khổng Phu Tử nói: “ăn uống và chuyện trai gái há chẳng phải là thiên tính sao”
Bài tụng viết:
“Đã có diệu lý của chư Phật,
Đâu cần lời lẽ của Khổng Thánh,
Nếu cứ tìm cầu trên văn tự,
Chắc chắn sẽ luống công vô ích”
(Tự hữu chư Phật Diệu Nghĩa
Mặc câu phu tử ngôn cú,
Nhược hướng văn tự tham cầu,
Định nhiên đồ lao vô ích.)
Có một tín đồ rất thành kính, suốt ngày cầu nguyện trước tượng Quán Thế Âm Bồ tát, hy vọng Bồ tát ban cho anh ta sự giàu có và hạnh phúc. Mọi người đều nói: Bồ tát Quán Thế Âm hễ cầu nguyện tất đáp ứng, nhưng đã mấy mươi năm qua đi, anh ta vẫn khốn khó như xưa.
Rồi một hôm, không thể nhẫn nại được nữa, lời cầu nguyện của anh ta đã biến thành lời oán trách: “Quan Thế Âm Bồ tát! Mọi người đều nói Ngài đại từ đại bi, có ba mươi hai ứng thân, tuỳ nơi mà hiện hoá, không có gì là không làm được. Nhưng tại sao Ngài lại cứ bỏ quên con như thế? Đã nhiều năm nay, không có ngày nào con không cầu nguyện với Ngài, thế mà, thần may mắn lại không hề chiếu cố đến con. Ngài xem, hàng xóm của con chẳng có ai thành kính đối với Ngài như con, thường ngày ngay cả thắp hương họ cũng không thắp, nhưng Ngài lại để cho vé số mà họ mua trúng thưởng lớn! Điều này thật sự bất công quá…”
Bồ tát Quán Thế Âm thực sự bị những câu than vãn dây dưa của anh ta làm phiền, bèn mở lời nói: “Những năm nay, ngoài việc không ngừng cầu nguyện ra, còn làm những gì nữa? Ngay cả việc muốn trúng thưởng thôits ra cũng phải mua lấy một tấm vé số chứ?”
Bài tụng viết:
“Người nào ăn cơm người đó no,
Phiền não của mình tự mình đoạn,
Xưa nay đâu có đấng cứu thế,
Dựa tường tường đổ lẽ đương nhiên.”
(Cá nhân ngật phạn cá nhân bảo,
Tự kỷ phiền não tự kỷ liễu,
Tùng lai một hữu cứu thế chủ,
Tổng thị kháo tường tường yếu đảo.)
TẮC THỨ HAI: BẺ GÃY NGẠO MẠN
Sau khi Ngài Huệ Năng sang sông, Ngài gạt nước mắt từ giã Sư phụ Ngũ Tổ. Ngày đêm Ngài tiếp tục lên đường, đi thẳng đến núi Đại Dữu ở giáp giới của Giang Tây và Quảng Đông. Trèo đèo, lội suối đi qua ngọn núi vừa dài vừa cao vừa nguy hiểm này là đến cố hương Lĩnh Nam rồi.
Cuối cùng, Ngài lại được trở về Tào Khê.
Bá tánh trong thôn Tào Hầu nghe nói Huệ Năng đạt được y bát của Tổ sư Thiền tông trở về, họ reo vui rộn rã đón tiếp như một vị anh hùng của dòng họ trở về. Thế là, họ khua chiêng đánh trống, lần nữa ủng hộ tôn sùng đưa Ngài Huệ Năng đến chùa Bảo Lâm, mời Ngài đăng đàn thuyết pháp, hoằng dương thiền pháp. Nhưng chỉ được chín tháng, hành tông của Huệ Năng bị bọn ác đồ phát hiện và vọng tưởng tranh đoạt y bát Thiền tông. Trong một đêm không trăng, gió lớn, chúng xông vào chùa Bảo Lâm, đi thẳng vào phương trượng của Ngài Huệ Năng đang ở….
May mắn thay! Đại sư Huệ Năng sau khi khai ngộ, trực giác vô cùng nhạy bén. Trong tâm Ngài rõ ràng sáng tỏ, thường biết rõ mọi việc, nên sớm đã nhận ra ý đồ bất lương của họ và đã trốn đi trước. Ngài trốn đến một ngọn núi lớn cây cối rậm rạp ở phía sau ngôi chùa. Ai ngờ bọn người tán tận lương tâm kia vì muốn ép Ngài đi ra khỏi rừng núi, đã ngang nhiên phóng hoả đốt núi!
Lửa cháy bừng bừng, khói đen cuồn cuộn, thế lửa càng lúc càng mạnh, ngọn lửa cháy càng lúc càng gần…
Ngay thời khắc đó, nếu Ngài Huệ năng không tự cứu mình, thì có thể tiêu thân trong biển lửa!
Không chút lo sợ, Ngài đi đến khe hở giữa hai tảng đá lớn, xếp bằng hai chân ngồi xuống, nhập vào thiền định sâu xa - sự việc bất khả tư nghì đã phát sanh, nhục thân của Ngài vẫn được ẩn dấu sâu giữa hai tảng đá!
Theo truyền thuyết, Sơ tổ Thiền tông – Tôn giả Đại Ca Diếp, chính nhờ lực của thiền định này đã ẩn vào trong ngọn núi Kê Túc, đợi đến khi Phật Di Lặc giáng sanh. Mà ngày nay, trên tảng đá ở núi Tào Khê vẫn còn lưu giữ dấu tích Lục Tổ Huệ Năng kiết già phu toạ, thậm chí những đường hoa văn trên y phục cũng rất rõ ràng. Mọi người đều gọi đó là “Tị nạn thạch” (đá tị nạn).
Ngài Huệ Năng sau khi lánh nạn ở trong núi sâu vùng Hoài Tập, Tứ Hội ở Quảng Đông mười lăm năm, pháp duyên cuối cùng cũng đã chín muồi. Lần thứ ba Ngài đến Tào Khê chính thức trú trì chùa Bảo Lâm (nay là chùa Thiều Quan Nam Hoa). Tin tức Lục Tổ thiền tông xuất thế ở Lĩnh Nam nhanh chóng truyền khắp Phật môn, rất nhiều Tăng nạp nghe danh thiền phong mà đến quy y.
Đúng là mùa xuân, thời tiết rất ôn hoà, muôn hoa đua nở, sắc xuân tươi đẹp, gió xuân ấm áp, Thiền Tăng hành cước vân du, gậy thiền làm ngựa vượt qua ngàn non, giày cỏ làm thuyền vượt qua sông suối, đến các tòng lâm hai bên bờ Bắc Nam sông lớn để thăm viếng hỏi đạo. Ngày hôm nọ, một Tỳ kheo (người xuất gia) trẻ tuổi đang dong ruổi trên con đường cát bụi dặm trường. Anh ta tên là Pháp Đạt, chớ thấy anh ta trẻ mà cho rằng anh ta còn nhỏ; Tăng lạp (năm tháng xuất gia) lại rất nhiều - mới bảy tuổi đã xuất gia. Anh ta nghe nói Lục Tổ đã lộ diện, không quản đường sá xa xôi, từ Hồng Châu tỉnh Giang Tây (nay là Nam Xương) vội đến bái yết. Thế mà, lúc anh ta đi vào chùa Bảo Lâm, khi thật sự nhìn thấy Lục Tổ Huệ Năng, lại rất thất vọng: lẽ nào người vừa thấp, vừa xấu , vừa đen, vừa gầy này lại chính là Tổ sư đời thứ sáu của Thiền tông sao? Lẽ nào kẻ nam man một câu cũng không biết này lại thật sự tinh thông Thiền pháp thần kỳ mà huyền diệu hay sao?
Nhưng đã đến trượng thất người ta, Pháp Đạt không thể không theo quy cũ viếng chùa của người xuất gia, đành đảnh lễ Đại Hoà thượng đường đầu ba lễ. Đương nhiên, sự lễ bái của anh ta rất là qua loa lấy lệ, ngay cả đầu cũng chưa được sát đất. Lục tổ thấy như vậy liền quở trách: “Tăng nhân đảnh lễ nên năm vóc sát đất, mà kiểu dáng lễ bái của ngươi thì đầu không sát đất, chẳng bằng đừng khấu đầu còn hơn! Ngươi cống cao ngã mạn như vậy, trong tâm nhất định đang chứa loại tự phụ gì trong đó!”
“Con là Pháp Đạt Tu trì ‘kinhPháp Hoa’ đã mười mấy năm, đã từng tụng niệm hơn ba ngàn lần”. Vừa nói, ý thức trong đầu Pháp Đạt lại trổi lên.
Lục Tổ nói: “Ngươi tên là Pháp Đạt mà chưa từng đạt pháp! Tăng nhân đảnh lễ không chỉ để bày tỏ sự tôn trọng của mình đối với người khác, mà còn để chiết phục tâm ‘ngã mạn’ của mình. Bởi vì, trong tâm người xuất gia một khi vẫn còn tập khí ngạo mạn, ngã chấp chưa đoạn trừ thì không thể thể ngộ được chân lý của vũ trụ nhân sinh. Ngươi chỉ mới đọc kinh ngoài miệng, ý nghĩa trong kinh điển ngươi vẫn chưa rõ. Ngươi nên hiểu rằng, chỉ có sáng tâm thấy tánh, mới có thể gọi là Bồ tát”.
Pháp Đạt đỏ mặt tía tai, lung túng đứng dậy ngay tại chỗ đó.
Lục Tổ nhẹ nhàng thở ra một hơi rồi chậm rãi nói: “Hôm nay, ngươi từ xa đến thăm ta, cũng coi như có duyên phận, nay Ta nói cho ngươi diệu nghĩa của Phật pháp.
Lục Tổ đưa cho Pháp Đạt một tách trà, đợi anh ta uống hết, mới hỏi: “Pháp Đạt! ngươi hãy miêu tả chính xác hương vị của tách trà này là gì? Nó và tách trà ngươi đã từng uống trước đây có gì khác nhau?”
“Điều này, điều này,…” pháp Đạt ngập ngừng hồi lâu mà vẫn không nói chính xác ra được hương vị của tách trà.
Lục Tổ cười lớn, nói: “Thiền không thể dùng lời lẽ để nói, như người uống nước nóng lạnh tự biết lấy. Áo diệu của Phật pháp cũng không thể dùng chữ nghĩa để biểu đạt. Tất cả kinh sách, kể cả “kinhPháp Hoa” đều là công cụ để đức Phật chỉ dạy cho chúng ta khai ngộ. Nó cũng giống như ngón tay chỉ mặt trăng, mục đích là để cho chúng ta thuận lợi, nhanh chóng tìm ra mặt trăng. Mà bản thân ngón tay hoàn toàn không phải là mặt trăng. Nếu ngươi chỉ nghiên cứu sự thô tế, dài ngắn, màu sắc của ngón tay thì mãi mãi ngươi không thể tìm ra mặt trăng trên trời. Cho nên, người học Phật phải trực tiếp tìm tòi nghiên cứu bản thể của Phật pháp mà không chấp trước vào kinh điển. Nếu ngươi trì tụng kinh ‘Pháp Hoa’ với tâm trạng như thế thì tất cả diệu pháp sẽ như hoa sen vậy, tự nhiên sinh ra từ trong miệng ngươi!”
Pháp Đạt nghe lời dạy của Lục Tổ xong hoát nhiên có chút tỉnh ngộ, nhưng trong lòng vẫn còn một chút nghi hoặc, do dự hỏi tiếp: “Nói như vậy thì chỉ cần hiểu được ý nghĩa của kinh điển thì không cần phải mệt thần phí sức đọc tụng kinh văn sao?”
Lục Tổ Huệ Năng nói: “Kiểu lý giải máy móc của ngươi chẳng phải cái này tức là cái kia như vậy, lại sa vào một loại giáo điều khác. Kinh điển có gì sai, há nó có thể trở ngại việc đọc tụng của ngươi sao? Nếu như miệng trì tụng kinh văn, tâm cũng có thể thực hành tu tập, chính là ‘chuyển kinh’; Nếu như miệng đọc kinh văn mà tâm lại không biết thực hành, như vậy thì đã bị chuyển theo kinh.
Lục Tổ lại ngâm tụng một bài kệ cho Pháp Đạt:
“Tâm mê Pháp Hoa chuyển, tâm ngộ chuyển Pháp Hoa.
Tụng kinh lâu không hiểu, oán trách tại nghĩa lý.
Không suy nghĩ tức chánh, có suy nghĩ tức tà.
Có không đều không tính, thường cưỡi xe Trâu trắng.”
(Tâm mê ‘Pháp Hoa’ chuyển, tâm ngộ chuyển ‘Pháp Hoa’.
Tụng kinh cửu bất minh, dữ nghĩa tác cừu gia.
Vô niệm niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành tà.
Hữu vô câu bất kế, trường ngự Bạch Ngưu xa.)
Xe Trâu trắng là một thí dụ trong kinh ‘Pháp Hoa’, đại biểu cho nguồn gốc tự tánh con người của chúng ta. Pháp Đạt nghe kệ xong, rỗng rang đại ngộ. Từ đó, anh ta suốt đời đi theo Lục Tổ, trở thành một trong mười người đệ tử lớn của Ngài Lục Tổ Huệ Năng.
Liên quan đến thiền cơ: Đánh Tức Là Không Đánh
Có một vị Tú tài, nuốt trỗng đầy một bụng thiền lý, đi khoe khoang khắp nơi. Anh ta nghe nói Thiền sư trú trì trong một ngôi chùa tinh thông thiền pháp, nhưng lại rất nghi ngờ, bèn tìm đến chùa để so sánh sự sắc sảo thiền cơ với Thiền sư.
Sau khi gặp mặt, Tú tài tự cho mình cao siêu không chịu dập đầu lễ bái, chỉ cúi đầu chào hỏi mà thôi. Lão Thiền sư hỏi: “Ngươi tuổi trẻ, lại là người có học, thấy người lớn tại sao không lễ bái?”
Tú tài đã chuẩn bị trước, nên thưa: “Con cúi đầu chào hỏi, tuy trên hình thức thì chưa từng lễ bái, nhưng trong tâm lại lễ bái rồi. Thiền sư hà tất phải phân biệt hình thức bên ngoài?”
Thiền, siêu việt tất cả hình thức, không bị giới hạn câu nệ bởi khuôn khổ, không còn phân biệt đối lập. Từ trên góc độ thiền mà nhìn, lời nói của Tú tài hoàn toàn không sai, vì thế Tú tài đắc ý liếc xéo qua Lão Thiền sư, xem ông ứng đối như thế nào?
Lão Thiền sư không nói tiếng nào, cầm thiền trượng lên, thẳng tay gõ trên đầu Tú tài ba cái. Tú tài rất giận dữ, hét lên: “Ông là một người xuất gia, theo lý mà nói thì tâm không được sân hận, tại sao lại động một cái là đánh người vậy?”
Lão Thiền sư mỉm cười, không chút lo lắng, nói: “Đánh tức là không đánh, tay ta tuy đánh ngươi nhưng trong tâm ta lại không đánh ngươi, Tú tài ngươi hà tất lại phải phân biệt?”
Tú tài đớ lưỡi không thể đáp được, xấu hổ lui ra.
Tú tài lý lẽ hồ đồ nên bị đánh, bị đánh nên càng hồ đồ, trong lòng rất không phục, quyết tâm sẽ dành lại thể diện.
Hạt nhân của Phật giáo không phải là ‘Không’ sao? Thế là, anh ta bắt đầu nghiên cứu rất thấu triệt nghĩa ‘Không’ của Phật giáo, lại thêm anh ta biện tài vô ngại, cho nên chẳng bao lâu đã có thể trình bày một cách rành mạch ‘Thập Nhị Không’ trong ‘kinh Đại Phẩm Bát Nhã’ như hoa trời tung khắp. Rất nhiều người suốt đời nghiên cứu Phật giáo đều biện luận không qua anh ta.
Thế rồi, người Tú tài đã chuẩn bị sẵn sàng này lại lần nữa đến chùa, ngồi xuống đối diện với Lão Thiền sư. Đề tài họ bàn luận đương nhiên là ‘Không’. Tú tài nói thao thao bất tuyệt những lý giải về ‘Không’ của mình: “Tâm không, Phật không, chúng sanh không, cả ba đều không; Hiện tượng không, bản chất không, tự tánh chân không. Vì tất cả đều không cho nên không có phiền não có thể đoạn trừ, không có Bồ đề có thể chứng, không có mê, không có ngộ, không có phàm, không có Thánh, không có người cho và không có người nhận….”
Lão Thiền sư chỉ bình tĩnh lắng nghe, Ngài rót trà cho Tú tài, nhưng Tú tài không rãnh miệng để uống; Thiền sư lại đưa cho anh ta một trái cây rừng, hai tay anh ta lại bận ví dụ, đành phải tạm thời đặt ở một bên. Có một con ruồi lại không khách khí, bay qua đáp xuống trên trái cây mà Tú tài chưa rãnh để thưởng thức. Luận chứng ‘Không’ của Tú tài như thác nước trên núi cao cuồn cuộn trút xuống, đương nhiên chẳng để ý đến ruồi hay không ruồi gì cả. Thiền sư đem phất trần ra đuổi ruồi, thuận thế gõ luôn trên đầu tú tài một gõ. Người thanh niên vô cùng phẫn nộ: “Lão Hoà thượng này, miệng nói không hơn người ta, lại cứ động một chút là ra tay!”
Ánh mắt giận dữ của anh ta trợn tròn, nhìn trừng trừng Thiền sư. Thiền sư mỉm cười, chậm rãi nói: “Đã nói tất cả đều là không, vậy xin hỏi giận dữ của ngươi từ đâu đến? Vì sao mà nảy sinh?”
Kệ tụng viết:
“Có ngã tức vô ngã,
Không lễ tức là lễ,
Chỉ nói suông về thiền,
Làm sao sáng tỏ tâm?”
TẮC THỨ BA : MIÊU TẢ CHÂN NGÃ
Sau khi Lục Tổ Huệ Năng trú trì chùa Bảo Lâm, Ngài xây dựng mở rộng chùa chiền, tiếp dẫn học tăng, suốt ngày bận rộn tối mắt tối mũi. Một hôm, Ngài phát hiện y ca sa Tổ truyền lại bị nhăn nheo, dính đầy bụi đất. Thế là Ngài tranh thủ thời gian đem y ca sa ra khỏi chùa, định đến bờ Tào Khê giặt.
Nước Tào Khê uốn lượn quanh co khúc khuỷu, một đoá hoa rừng lãng mạn đang trôi theo dòng nước lượn lờ. Trời xanh mây trắng đang phản chiếu xuống dòng sông, tạo ra một vòng cung tự nhiên khoáng đạt trước chùa Bảo Lâm, sau đó tan ra, reo vui bay về phương xa.
Bên bờ suối, có mấy Sa di nhỏ tuổi đang giặt áo quần. Họ cũng rất chăm chỉ, ngay cả áo quần trên người cũng đem giặt hết - Bạn chà áo, tôi tạt nước, kết quả, toàn thân mọi người đều là nước, ướt như chuột lột. Bọn họ không lo không buồn, dường như còn vui vẻ, hoạt bát hơn cả dòng nước Tào Khê trong mát, những hòn đá cuội lớn nhỏ dường như được kết thành từ những tiếng cười khanh khách của đám Tiểu Sa di.
Sông Tào Khê, như dây đàn, như móc câu
Như tiếng đàn ngâm khúc Bồ đề
Như câu không được làn mây trắng
Âm vang của thiền xanh thăm thẳm.
Lục Tổ Huệ Năng lặng lẽ bỏ đi. Một là Ngài không muốn vì sự hiện diện của mình mà làm cho tiếng cười đùa của họ biến mất; Hai là, Ngài nghĩ, áo ca sa này là vật thần thánh do Tổ sư Đạt Ma đem từ Ấn Độ sang, ngộ nhỡ nước suối từ trên nguồn chảy xuống cũng có người đang giặt rửa ở phía trên, dơ bẩn theo dòng mà chảy xuống, há không phải là coi thường ca sa sao?
Đại sư Huệ Năng quay người, tay cầm thiền trượng – cũng gọi là tích trượng, đi về hướng núi sâu ở sau chùa.
Đi rồi nghỉ, nghỉ rồi đi, không ngớt tìm kiếm, Đại sư Huệ Năng vừa đi vừa quan sát, bất giác đã đi được bốn, năm dặm đường, Ngài đi đến một nơi đều tĩnh, cây cối um tùm ở trong rừng.
Ở đây, những cây cổ thụ cao chọc trời, bóng cây che khắp mặt đất, cỏ thơm như tấm thảm, không khí trong lành bao quanh. Chẳng biết tại sao nữa mà Lục Tổ Huệ Năng lại mỉm cư