TẮC THỨ NĂM: GIÁO HOÁ THÍCH KHÁCH
Sự ra đi không trở lại của Chí Thành làm cho Đại sư Thần Tú cảm nhận sâu sắc rằng, thiền pháp của Đại sư Huệ Năng đích xác là cao minh hơn ta. Với sự khích lệ của Ngài lại có thêm vài đệ tử đi đến Lĩnh Nam Tào Khê. Tình hình này dẫn đến sự khủng hoảng của một số đồ đệ danh lợi dưới tướng của Đại sư Thần Tú. Họ tụ tập lại tính mưu kế, bàn bạc làm thế nào để tiêu trừ ảnh hưởng của Đại sư Huệ Năng càng ngày càng lớn rộng trong thiền lâm. Trong đó có một người than rằng: “Nghe nói Lĩnh Nam hằng năm đều có chướng khí dày đặc, sao không hại chết người tiều phu này nhỉ?”
Đúng! Đúng! Chỉ cần cán cờ của Huệ Năng ngã xuống, những gì là gia phong Tào Khê, pháp môn đốn ngộ đều tiêu tan theo mây khói, đi theo Diêm vương thôi. Thế là họ tìm ra tráng sĩ, đầu óc đơn giản lại chuyên bênh vực người bị ức hiếp đó là Trương Hành Xương. Trương Hành Xương là người Giang Tây, từ nhỏ đã thích múa gươm múa kiếm, luyện thành công phu thân cứng, năm ba người khoẻ mạnh cũng đừng hòng đến gần. Anh ta hành hiệp trượng nghĩa, đánh kẻ hung tàn, giúp người hèn yếu, là người có tên tuổi ở dọc bờ Trường Giang. Anh ta tuy là một nam tử hán sấm vang chấp giật, khí thế bừng bừng, nhưng lại là một người rất có hiếu. Vì cầu cho bịnh tình của mẹ thuyên giảm nên thường đến chùa Ngọc Tuyền lễ bái dâng hương. Họ tìm Trương Hành Xương đến liêu phòng, nguỵ tạo ra rất nhiều câu chuyện về Huệ Năng, nói Huệ Năng gian trá như thế nào, lừa dối sự tín nhiệm của Ngũ Tổ, sau khi trộm ca sa chạy trốn suốt đêm, ẩn trốn ở Lĩnh Nam mười sáu năm… những người đó khóc lóc thêu dệt nên chuyện, làm kích động khí thí nghĩa hiệp trừ tà phò chánh của Trương Hành Xương. Anh ta nộ khí xung thiên, đập bàn đứng dậy, nhận lời bọn họ đến Lĩnh Nam hành thích Huệ Năng. Lúc sắp đi, bọn họ cho Trương Hành Xương 10 lạng bạc, nói là để cho mẹ anh ta mời thầy thuốc khám bệnh. Trương Hành Xương lại cảm động đến nổi không biết nói sao cho phải, nên lập tức lên đường, ngày đêm không nghỉ. Băng qua ngọn Đại Dữu Lĩnh ở biên giới của Giang Tây và Quảng Đông, rồi đi thẳng đến Thiều Châu Tào Khê, ….
Ban đêm ở chùa Bảo Lâm rất yên tĩnh, chỉ có suối Tào Khê ở trước chùa, không biết mệt mỏi hát khúc tiểu dạ trong xanh cho núi non trầm mặc. Một bóng đen mặc đồ đi đêm, giống như một âm hồn nhanh nhẹn lặng lẽ lướt qua hàng rào, nhẹ nhàng đi xuyên qua mái hiên chánh điện, tiếp cận với phương trượng - ở đó chính là nơi Đại sư Huệ Năng đang yên giấc!
Bóng đen bí mật, đương nhiên là sát thủ đến hành thích – Trương Hành Xương!
Trương Hành Xương lặng lẽ đứng một hồi lâu trước cửa phương trượng, dường như đang suy nghĩ làm thế nào để vào trong thất. Lúc anh ta đưa tay lên sửa lại mặt nạ bảo vệ, trong lúc vô ý khuỷu tay đụng nhẹ phải tấm cửa lớn, không ngờ cánh cửa kia lại bị mở ra!
Trời ạ! Cánh cửa phương trượng chỉ là khép hờ thôi!
Trên đời lại có những điều may mắn vậy sao?
Đúng là trời đã giúp ta! Trương Hành Xương không nghĩ ngợi nhiều, rút cây dao nhọn sắc bén ra, lách mình đi chậm vào trong thất…
Trong phương trượng vẫn một vùng tĩnh mặc hiền hoà, chỉ có tiếng thở đều đều từ góc phòng vẳng lại. Trương Hành Xương đưa dao lên cao, lặng lẽ mò đến bên giường, nhắm đến phần cổ của người nằm trên giường độc ác đâm xuống – người nằm trên giường vẫn không hề phản ứng gì.
Chẳng biết vì sao mà mọi việc lại rất thuận lợi như thế, hay chỉ là ảo giác, Trương Hành Xương cảm thấy mũi dao đâm xuống có cái gì đó rất khác thường. Anh ta chẳng kể ba bảy hai mươi mốt gì cả, liên tiếp đâm xuống hai nhát nữa. Lúc đó, người vốn phải chết trên giường lại mở miệng nói: “Chánh kiếm không làm việc tà, tà kiếm không làm việc chánh, dao của ngươi là con dao tà ác, vĩnh viễn không thể giết được ta”.
Trời ạ! Trên đời lại có những việc kỳ quái này sao? Trương Hành Xương hồn phách bất định vốn đã nghi ngờ có gì mờ ám, đột nhiên lại nghe ‘người chết’ nói chuyện. Sự kinh hoàng , sợ hãi đủ làm anh ta hồn bay phách tán! Anh ta kinh hoàng la lên một tiếng, sợ hãi đến nỗi ngất đi…
Nguyên là Lục Tổ Huệ Năng từ sau khi đại triệt đại ngộ, thần thông đầy đủ, nên vài ngày trước đã cảm thấy một luồng sát khí dần dần đến Tào Khê. Đêm hôm đó, Ngài cố ý khép hờ cửa, tắt đèn nằm trên giường, nhập vào thiền định từ bi (một trạng thái thiền định có thể hoá giải tất cả sân hận). Cho nên mũi dao của Trương Hành Xương không mảy may làm hại ngài được.
Chẳng biết trải qua thời gian bao lâu, Trương Hành Xương giống như con rắn vào tiết kinh Trập, dần dần dường như tỉnh lại sau trạng thái nghỉ Đông. Anh ta nhìn thấy Đại sư Huệ Năng ngồi ngay ngắn trên giường thiền. Trên thân dường như phóng ra hào quang thần thánh. Trong lòng anh ta cứ mù tịt, chẳng hiểu gì cả chỉ biết quỳ xuống đất không ngừng dập đầu lạy, khẩn cầu Đại sư Huệ Năng tha thứ.
Đại sư Huệ Năng nói: “Ta hoàn toàn không nợ mạng của Ta, ngươi cũng không làm hại đến Ta, cho nên Ta càng không muốn đối xử với ngươi như thế nào cả. Ngươi đi đi! Sau này tự làm cho tốt”.
Trương Hành Xương không thể nào dám tin, người sém chút nữa bị anh ta giết, lại có thể dễ dàng bỏ qua cho anh ta như vậy. Chẳng phải là nằm mơ sao? Anh ta do dự đứng dậy, nhìn ra cửa thử xem nên đi về hướng nào…
“Quay lại!”
Trương Hành Xương giật mình, nhìn lại, Huệ Năng hối hận rồi! Đúng vậy, thù hận của sanh và tử ai có thể quên được? Sống trên đời này bạn có tội thì phải đền tội, về lý thì phải trừng phạt nghiêm khắc!
Ai ngờ, Đại sư Huệ Năng lại nói: “Ta biết, lúc ngươi đến giết Ta, đã nhận trước của người ta mười lạng bạc. Nay ngươi hành thích không được phải đối xử với người ta như thế nào?”.
“Con,…” mười lạng bạc đó đã tiêu hết cho mẹ khám bệnh rồi, chỉ có chết mới có thể tạ tội được, anh ta thật không biết làm sao nữa.
Đại sư Huệ Năng cười, nói rằng: “Tục ngữ có câu, một nén bạc khó giết anh hùng hảo hán. Ngươi tuy thân có võ nghệ, lại nghèo xác xơ, cho nên ta đã chuẩn bị cho ngươi đủ mười lạng bạc. Ta đã để trên ghế bên cạnh ngươi. Ngươi cầm đi để trở về trả lại cho người ta”.
Trương Hành Xương trố mắt đờ đẫn, tiếp đó nước mắt dàn dụa. Một người mãi sống cuộc sống giang hồ khoan khoái với ân nghĩa và thù oán, lưỡi dao liếm máu như anh ta chưa hề nhận được ân tình nồng ấm như vậy. Thế là anh ta phát khởi lòng thành hướng đến Lục Tổ Huệ Năng cầu xin sám hối, ngay lúc đó liền phát nguyện xuất gia, suốt đời hầu hạ bên cạnh Sư phụ để chuộc lỗi lầm. Đại sư Huệ Năng nói: “Ngươi muốn cải tà quy chánh, xuất gia tu hành đương nhiên là rất tốt, nhưng ngươi lại không thể ở lại Tào Khê, càng không thể ở lại bên cạnh ta”.
Thử nghĩ xem ai lại muốn một người đã từng giết mình ở lại bên cạnh chứ? Vẻ mặt Trương Hành Xương lộ vẻ tuyệt vọng, lầm bầm nói: “Đúng rồi! tội của ta không thể tha thứ…”
Đại sư Huệ Năng cười cười nói: “Ngươi muốn đi đến đâu? Nếu ngươi ở lại Tào Khê, Ta sợ các đệ tử của Ta biết được chuyện này sẽ bất lợi cho ngươi, làm tổn hại ngươi, cho nên ngươi tạm thời lánh đi, đợi sau khi tình hình yên lặng rồi quay lại. Đến lúc đó Ta nhất định thâu nhận ngươi làm đệ tử”.
Nước mắt của Trương Hành Xương chảy dài như sông, đầm đìa như mưa lớn, anh ta dập đầu lạy tạ Ngài Huệ Năng rồi lẫn trốn ngay trong đêm.
Sau hơn mười năm, một vị tăng khổ hạnh thần thái mệt mỏi, dung mạo tiều tuỵ đi đến Tào Khê. Anh ta giống như một du tử phiêu bạt nơi chân trời góc bể, bỗng nhiên gặp được mẹ hiền tóc bạc ngày đêm nhớ mong, bổ nhào xuống đầu gối ngài Huệ Năng, khóc rưng rức. Ngài Huệ Năng cũng thật giống như mẹ hiền, xoa đầu anh ta, cảm động nói: “Ta đã nhớ con từ lâu, rất lâu rồi, tại sao bây giờ con mới trở lại?”
Vị tăng khổ hạnh bây giờ chính là sát thủ Trương Hành Xương ngày xưa.
Năm đó sau khi được Đại sư Huệ Năng cảm hoá, đã mai danh ẩn tích, đến xuất gia ở một ngôi chùa nhỏ. Để sám hối tội lỗi của mình, anh ta kiên quyết bắt đầu tu khổ hạnh đầu đà rất là gian nan. Ngài Huệ Năng quan tâm hỏi anh ta: “Con đã xuất gia rồi thì con tu hành như thế nào?”
Hành Xương thưa: “Đã bao năm nay, đệ tử cứ đọc tụng kinh ‘Niết Bàn’ làm thời khoá, nhưng do đệ tử căn cơ thấp kém, lại không có minh sư chỉ dạy, chỉ là theo sách mà đọc thôi, ngay cả ý nghĩa căn bản ‘thường và vô thường’ ở trong kinh đệ đều không hiểu lắm. Hôm nay đúng lúc xin đại Hoà thượng giảng qua cho đệ tử một tí”.
Ngài Huệ Năng nói: “Vô thường trong chốc lát mà có biết bao là thay đổi, tức là Phật tánh, hữu thường chính là tâm phân biệt tất cả các pháp thiện ác”.
Hành Xương giật mình, kinh ngạc hỏi: “Sư phụ, điều mà ngài nói như vậy so với văn nghĩa trong ‘kinh Niết Bàn’ rất sai khác nhau, phải chăng trái lại với ý nguyện của kinh Phật?”
Huệ Năng mỉm cười nói: “ Ta là tổ sư Thiền tông được tương truyền từ cùng một mạng mạch của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là thay Phật tuyên truyền giáo hoá, truyền Phật tâm ấn. Lời của Ta làm sao có thể trái với kinh Phật?”
Hành Xương nói: “Nhưng trong ‘kinh Niết Bàn’ nói Phật tánh là thường mà Ngài lại nói vô thường; trong kinh nói tất cả pháp thiện ác vẫn cho đến tâm bồ đề…đều là vô thường, ngược lại Ngài lại nói là thường. Đây chẳng phải là trái ngược, tương phản với kinh văn sao?”
Đại sư Huệ Năng cười ha hả, cứ cười mãi làm cho Hoà thượng Hành Xương này đờ đẫn ra.
Sư phụ, Ngài cười như vậy con càng mờ mịt hơn.
Đại sư Huệ Năng bảo: “Bộ kinh Niết Bàn này, trước khi Ta đến Hoàng Mai cầu pháp đã nghe Tỳ Kheo Ni Vô Tận Tạng đọc qua một lần. Lúc đó, ta có thể giảng giải cho cô ta , không có chữ nào, nghĩa nào là không phù hợp với nghĩa trong bản kinh ‘Niết bàn’. Nay ta giải thích cho con cũng như vậy”.
Hành Xương vò đầu mãi, cũng không thể xua hết nghi hoặc đầy trong óc não, nên khẩn cầu lần nữa: “Sư phụ! Con bẩm tánh ngu xuẩn, học thức lại ít ỏi, xin Ngài giải thích tường tận cho con”.
Đại sư Huệ Năng gật đầu rồi nói với anh ta: “Con biết không, tại sao đức Phật nói kinh Niết Bàn? Vì sao trong kinh lại nói rõ Niết Bàn có bốn ý nghĩa Thường, Lạc, Ngã, Tịnh?”.
Hành Xương lắc lắc đầu giống như đánh trống rao hàng.
Đại sư Huệ Năng chậm rãi nói: “Có một vài người lấy vô thường làm thường, lấy khổ làm vui, lấy vô ngã làm ngã, lấy bất tịnh làm tịnh, đây là bốn loại điên đảo, cũng chính là tà thường. còn có một số người không rõ đạo lý tuỳ duyên bất biến, bất biến tuỳ duyên, lại đem phi thường, phi lạc, phi ngã, phi tịnh làm thành lý luận bảo bối, đây cũng là bốn loại điên đảo. Chính để phá trừ tám loại thấy biết sai lệch này mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni mới thuyết minh Niết Bàn có bốn đức: chơn thường, chơn ngã, chơn lạc, chơn tịnh ở trong kinh Niết Bàn”.
Pháp đức Phật thuyết đều là vì hoá độ chúng sanh tương ứng. Cho nên, chúng ta không thể đem kinh điển của Phật làm thành một giáo điều bất biến. Con vì những văn tự chết ấy mà lý giải ý nghĩa kinh Phật một cách máy móc, từ đó mà giải thích sai giáo nghĩa vi diệu, viên dung của Phật Đà. Hành Xương này, con nên hiểu rõ, học Phật kỵ nhất là giáo điều cứng nhắc. Cứ như con trước đây vậy thì dù có đọc tụng kinh Phật ngàn lần, vạn lần cũng không ích lợi gì?”
Giáo pháp của Lục Tổ Huệ Năng và Phật Đà giống nhau như đúc, đều là “quán sát căn cơ để giáo hoá thích hợp”. Nếu khi đệ tử chấp trước ‘Phật tánh là thường’ thì Ngài liền nói Phật tánh ‘vô thường’; Nếu đệ tử chấp trước ‘Phật tánh là vô thường’ thì ngài sẽ nói ngược lại ‘Phật tánh là thường’. Thật ra, Phật tánh chẳng phải thường hay vô thường. Đức Phật và Tổ sư nói ‘thường’ và ‘vô thường’ đều là để phá trừ chấp trước của chúng ta.
Một người có mắt sáng dẫn một đoàn tạm thời bị mù đi trị liệu về mắt. Trên đường họ đi tìm thầy thuốc rất là gập ghềnh gian nan, đầy dẫy những hòn đá lớn nhỏ và các hố sâu. Để tránh những chướng ngại đó, người mắt sáng sẽ phải chỉ huy đội ngũ của anh ta lúc thì đi qua trái, lúc lại bảo họ đi qua phải. Cứ như vậy, ắt sẽ có người không khỏi nghi ngờ: trái và phải đúng là ngược nhau, cuối cùng thì anh bảo chúng tôi đi qua trái hay đi qua phải?
Thực ra, người mắt sáng không phải chỉ bảo họ đi qua trái, cũng không phải bảo họ đi qua phải mà là bảo họ đi về phía trước; Kỳ thật, đi về phía trước cũng không phải là mục đích mà là đem họ đến được chỗ trị liệu, làm cho mắt họ được sáng lại.
Dưới sự thấm nhuần cơn mưa pháp của Lục Tổ Huệ Năng, Hành Xương hoát nhiên đại ngộ! Giống như dòng suối tuôn trào từ trong ruộng tâm của Ngài mà chảy ra:
“Vì chấp tâm vô thường, Phật nói có Phật tánh.
Không biết là phương tiện, như nhặt đá ao xuân.
Ta nay không phí công, Phật tánh lại hiện tiền.
Chẳng phải Thầy cho ta, cũng không phải ta được”.
(Nhân thủ vô thường tâm, Phật thuyết hữu thường tánh.
Bất tri phương tiện giả, do xuân trì thập lịch.
Ngã kim bất thí công, Phật tánh nhi hiện tiền.
Phi sư tương thọ dư, ngã diệc vô sở đắc.)
Đại sư Huệ Năng nghe bài kệ ngộ đạo của anh ta xong rất vui, bảo anh ta rằng: “Hôm nay con đã triệt ngộ lớn, pháp danh của con là Chí Triệt nha!

Từ đó Hành Xương đổi tên thành Chí Triệt, nhiều năm ở bên cạnh hầu hạ Sư phụ. Kẻ sát thủ lỗ mãng này một khi đã bỏ dao xuống, không những ngộ thấu sự thật của nhân sanh vũ trụ mà còn trở thành một trong mười người đệ tử lớn của Ngài Huệ Năng lúc tuổi đã già.
Liên quan đến thiền cơ: Cường Đạo Và Đồ Tể
Một đêm hôm nọ, mấy kẻ cường đạo đi cướp của nhà người ta. Cả nhà lớn nhỏ nhìn thấy bó đuốc cháy rừng rực và con dao lớn sáng quắc, sợ quá, họ đều quỳ xuống đất, không ngớt dập đầu cầu xin: “ xin Đại vương tha mạng, xin Đại vương tha mạng…”
Đại vương, Sơn Đại vương tự nhiên làm người ta khiếp sợ. Kẻ cường đạo nghe không lọt tai bèn mắng rằng: “Đại vương cái gì? Ta đây là một anh hùng hảo hán không sợ trời, không sợ đất! Gọi ta là hảo hán!”.
“Hảo hán, hảo hán,…”
Lúc này từ xa vọng lại mấy tiếng gà trống gáy. Các hảo hán không kịp trả lời, vội vàng chạy trốn.
Người lớn trong nhà đó đứng dậy gọi theo cái bóng sau lưng của họ đã nhanh chóng đi xa: “Hảo hán, hảo hán, ăn cơm sáng rồi hãy đi”
Tụng viết:
“Cường đạo sợ trời sáng, gà gáy hiện nguyên hình.
Từ bi giải thù hận, sát thủ tụng Phật kinh”.
(Cường đạo phạ thiên minh, kê khiếu hiện nguyên hình.
Từ bi hóa cừu hận, sát thủ tụng kinh Phật.)
Cường đạo giết người cướp của, tung hoành khắp nơi, tại sao lại sợ trời sáng? Thiền sư Chí Triệt làm sao có thể từ một hung thủ đâm chém Lục tổ lại chuyển hoá thành một trong mười vị đệ tử lớn rất đắc lực của Đại sư Huệ Năng?
Tất cả điều này đều là do tác dụng của “Phật tánh”.
Thời Nam Tống, có một Thiền sư tên Tư Nghiệp ở Thiền viện Văn Thù (nay là thành phố Thường Đức tỉnh Hồ Nam). Tổ tiên ông đời đời nối nhau sống bằng nghề đồ tể. Tự nhiên như vậy, sau khi trưởng thành, ông cũng nối nghiệp của cha, bắt đầu giết heo, mổ dê. Đồ tể cũng có thiện căn, một cơ duyên ngẫu nhiên, anh ta theo những người hàng xóm đến chùa thắp hương lễ Phật. Trong sự tình cờ, anh ta nghe được Thiền sư khai thị đạo lý “tâm là Phật” (tức tâm tức Phật). Mặc dù vậy, anh ta vẫn không thể tin được. Ví dụ một kẻ đồ tể như anh ta thì làm sao có thể “bỏ dao xuống, lập tức thành Phật” được?
Không ngờ, anh ta tuy chưa “bỏ dao xuống, lập tức thành Phật”, mà lại “cầm dao lên, lập tức thành Phật” rồi - Một hôm, lúc anh ta giết lợn như thường lệ, chính ngay trong sát na, mũi dao của anh ta từ cổ lợn thọc vào trong lòng ngực, máu tươi phun trào ra ngoài, anh ta bỗng nhiên thấu triệt nguồn tâm, đại triệt đại ngộ. Anh ta liền làm một bài kệ:
“Ngày qua tâm Dạ xoa, hôm nay mặt Bồ tát.
Bồ tát và Dạ xoa,cách nhau trong gang tấc.”
(Tạc nhật Dạ xoa tâm, kim triêu Bồ tát diện.
Bồ tát dữ Dạ xoa, bất cách nhất điều tuyến.”
Ngay lúc đó, anh ta ném dao mổ xuống đất, bỏ nghề nghiệp cũ, xuất gia làm Tỳ kheo, pháp danh Tư Nghiệp.
Sau khi anh ta xuất gia, hành cước đến chùa Văn Thù, bái kiến Thiền sư Tâm Đạo. Thiền sư Tâm Đạo hỏi anh ta: “Lúc ngươi đang giết heo, ngươi thấy cái gì, mà cắt tóc hành cước vậy?”
Thiền sư Tư Nghiệp yên lặng không nói, ngay trong giảng đường làm một tư thế cầm dao đâm giết. Nhiều năm trước, Tổ sư tông Vân Môn là Thiên Y Nghĩa hỏi đệ tử của Ngài là Huệ Lâm Tông Bản rằng: “Khi tức tâm tức Phật là như thế nào? Tông Bản trả lời như núi lỡ trời kinh: “Giết người phóng hoả có gì khó?”.
Đem so sánh “tức tâm tức Phật” và “giết người phóng hoả” đã chứng minh rõ ràng Huệ Lâm Tông Bản đã khế nhập chân đế của Phật pháp, trừ sạch phàm tình vọng thức và phân biệt đối lập. Cũng như vậy, Thiền sư Tư Nghiệp dùng tư thế cầm dao đâm giết để biểu thị, cho dù là hành vi đang giết heo máu tanh, nhưng tự tánh chưa từng mất đi tí nào. Chỉ cần ngay trong lúc giác ngộ, lập tức có thể thành Phật làm Tổ.
Thiền sư Tâm Đạo Văn Thù ấn khả ngộ cảnh của anh ta, rồi nói: “kẻ đồ tể này đi tham thiền đi!”
Sau đó, Thiền sư Tâm Đạo lui ra, đem chức vụ trú trì chùa Văn Thù truyền lại cho Tư Nghiệp.
Lúc mê thì sát sanh, người tức là Dạ xoa; Trong một niệm giác ngộ, đồ tể liền thành Bồ tát. Dạ xoa và Bồ tát đều là một người mà ra.
TẮC THỨ SÁU: ÂM THANH CỦA TRỨNG GÀ
Năm đó, vị đệ tử quan trọng nhất của Lục Tổ Huệ Năng là Nam Nhạc Hoài Nhượng lúc rời Tào Khê đến Hành Sơn lập môn đình khác, Sư phụ Huệ Năng bảo với ông: “Dưới trướng của ngươi sẽ có một con ngựa non, rong ruổi khắp nơi, đạp phăng thiên hạ. Lại ngược dòng lịch sử, vào thời xa xưa trước khi Tổ sư Đạt Ma đến Trung Quốc, Sư phụ của Ngài là Tôn giả Bát Nhã Đa La , cũng dự đoán với Ngài rằng: “ Trung Quốc tuy rộng lớn nhưng không có đường cho ngươi, chỉ nhờ bước chân của côn cháu ngươi thôi, một hạt gạo trên núi Kim Kê, có thể cúng dường cho La Hán Tăng trong mười phương’.
Người mà chư Tổ sư huyền ký chính là Mã Tổ Đạo Nhất. Thiền sư Đạo Nhất quê ở Thập Phương tỉnh Tứ Xuyên, ho Mã, cho nên người đời sau tôn xưng Ngài là ‘Mã Tổ’.
Ngày xưa, các vị tăng ở Tứ Xuyên có một truyền thống tốt đẹp, sau khi xuất gia thọ giới, luôn phải khắc phục trăm ngàn mối gian nan nguy hiểm, phải xông pha vào những tầng tầng lớp lớp chướng ngại của núi Ba sông Thục, băng qua các thung lũng vây kín của Tứ Xuyên, xuôi về Hạ Giang (người Ba Thục gọi tên vùng đất rộng lớn từ Tam Hiệp trở xuống) vân du tham học, luyện tập thiền đạo –
Sông ra khỏi Tam Hiệp mênh mông cuồn cuộn, nghìn dặm băng băng, chảy xuôi về biển không hề trở lại. Tăng rời Tứ Xuyên, chân trời góc bể sáng rõ mọi điều, ngộ triệt đại đạo mới về quê hương.
Vào giữa niên hiệu Khai nguyên đời Đường Huyền Tông, sau khi Đạo Nhất rời Tứ Xuyên, đến Nam Nhạc Hành Sơn, suốt ngày ngồi thiền sừng sững nơi núi vắng tịch mịch. Đại sư Nam Nhạc Hoài Nhượng bèn cầm một viên gạch vụn đến ngồi mài trước mặt Đạo Nhất. Đạo Nhất lấy làm lạ hỏi Ngài mài gạch để làm gì? Ngài trả lời muốn mài nó để làm tấm gương. Đạo Nhất cười lớn nói rằng: ‘một miếng gạch vụn mà có thể mài thành gương sao?’Đại sư Hoài Nhượng hỏi ngược lại: ‘ông đã biết gạch không thể mài thành gương, vậy ngồi thiền thì có thể thành Phật sao?’
Một lời nói làm tỉnh người trong mộng, từ đó Đạo Nhất tham học dưới trướng Ngài Hoài Nhượng (xem “Thiền Đông Thiền Tây, Mài Gạch Làm Gương”), mười năm gian khổ khác thường, trải qua muôn tôi vạn luyện của Đại sư Hoài Nhượng đã làm cho một tiểu tăng Đạo Nhất mù mờ không hiểu gì trở thành Tông sư Mã Tổ thủ nhãn thông thiên - một người đã được định trước là Đại pháp vương - phải ruỗi rong khắp thiên hạ, tung hoành thiên cổ.
Mười năm mài kiếm, hào quang chiếu khắp đại thiên. Tiếng gào xuất thế của Mã Tổ Đạo Nhất đã đem lại sự phồn thịnh chưa từng có cho Thiền tông. Bởi vì Ngài đã đem khí phách rộng lớn bao la, trí tuệ thần kỳ linh động và thiền lý thâm áo huyền diệu của mình hiển thị ra trong Cuộc sống bình thường hằng ngày, làm cho mỗi một người bình thường nào cũng đều có thể thể hội được sự siêu việt của Thiền, cảm nhận được phong thái của Thiền, lãnh ngộ được trí tuệ Bát nhã của Thiền.
Vì thế học giả khắp nơi vân tập dưới giảng toà của Ngài, Tăng Nạp trong thiên hạ ngưỡng vọng tông phong mà tựu về; Rồng bay hổ gầm, voi dậm chân sư tử hống, Tăng đông vô số, nhân tài muôn vẻ. Vì vậy đạo tràng của Mã Tổ có tên là ‘Tuyển Phật Trường’
Một hôm, Mã Tổ Đạo Nhất đang cao đăng pháp toà tại pháp đường nói với muôn ngàn học Tăng: “Các ngươi, nên tin tưởng tự tâm là Phật, tâm này tức là tâm Phật”. Ban đầu, Đại sư Đạt Ma từ Nam Thiên Trúc đến Trung Quốc chúng ta tuyên dương pháp ‘Nhất tâm tối thượng thừa’ chính là muốn chúng ta ngộ được điểm này”.
Có một vị Pháp sư giảng kinh không hiểu nên bước lên thưa: “Đã là ‘ tức tâm tức Phật’ vậy Tổ sư Đạt Ma còn truyền cho Ngài Huệ Khả bốn quyển ‘kinh Lăng Già’ để làm gì?”.
Mã Tổ gật gật đầu, rồi bảo rằng: “Tổ sư Đạt Ma vì muốn dẫn lời ‘kinh Lăng Già’ để ấn tâm địa của chúng sanh. Ngài sợ chúng ta điên đảo, không tin pháp ‘tức tâm tức Phật’, nên theo ‘kinh Lăng Già’ lấy tâm Phật dạy làm Tông. Vô môn tức pháp môn. Cho nên những vị cầu pháp như các ngươi, không nên cầu gì cả. Không có Phật nào khác ngoài tâm, không có tâm khác nào ngoài Phật”.
Pháp sư hoát nhiên đại ngộ, đãnh lễ mà lui ra.
Một đệ tử khác từ trong đại chúng bước lên trước thưa: “Con xin hỏi Đại Hoà thượng, mỗi ngày chúng con phải tu như thế nào?’.
Mã Tổ Đạo Nhất khai thị tiếp: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, thanh tịnh cũng tốt, ô uế cũng được, tất cả đều không chấp trước lưu luyến, cũng không để tâm ghét bỏ, tức là tu hành. Tâm niệm chúng ta luôn trôi chảy, niệm niệm bất khả đắc bởi vì chúng không có duyên cớ của tự tánh, cho nên tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức (tam giới đều từ nơi tâm, vạn pháp chỉ do thức biến).
Có một vị Thiền tăng nghe toàn tâm hoan hỷ, một lời khế cơ tâm được khai mở giác ngộ, xúc động quá nên khua tay múa chân, cười lớn rồi chạy ra giữa pháp đường. Tăng chúng xung quanh không lạ lùng gì nên tiếp tục lắng nghe Sư phụ thuyết pháp:
“Sâm la vạn tượng trong vũ trụ đều là dấu ấn của một pháp. Tức tâm tức Phật, làm sao mà lãnh hội? Các ngươi nên ghi nhớ: phàm những sắc được thấy đều là tâm thấy, tâm không phải tự tâm, nhờ sắc mà có. Tiếp xúc với các pháp là đạo, dừng lại là chân, hoàn toàn không phải là một loại lý luận! Thử nghĩ, tâm không có hình tướng, làm sao thể hiện được? Tâm có thể nhìn thấy sắc (sắc mà Phật giáo đề cập đến là vạn sự vạn vật), cái mà có thể nhìn thấy sắc, không phải là tâm thì là cái gì? Cho nên, tâm nhờ sắc mà có, thấy sắc tức là thấy tâm. Lỗ đen trong không gian vũ trụ chính là chứng minh sự tồn tại này.
Nhưng mà thiền tâm linh động, ngay cả Phật pháp mỹ diệu cũng không thể làm trở ngại . Vì thế, một thiền tăng đã khai ngộ hỏi một câu rất đặc biệt: “xin hỏi đại Hoà thượng, vì sao ngài nói ‘tức tâm tức Phật?’
Mã Tổ cười nói: ‘Để dỗ con nít đừng khóc’
Trong Phật giáo lưu truyền một câu chuyện như thế này: ‘một đứa bé luôn khóc không ngớt. Cha mẹ cho nó một lá cây khô vàng rồi nói đây là miếng vàng quý nhất trên thế giới. Thế là đứa bé vui mừng đem lá vàng ra chơi, và hết la khóc.
Thiền tăng hiểu ra cười nói: “Khi nín khóc thì như thế nào?”.
Mã Tổ đổi lại kiểu khác, nói: “Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật”
Thiền tăng tiếp tục truy hỏi: “Ngoài hai loại người này ra, Ngài chỉ thị như thế nào?”.
Mã tổ nói: “Nói với anh ta, không phải là vật”.
Thiền tăng vẫn chưa chịu thôi, nhanh như ánh chớp, lại đem thiền cơ mạnh mẽ hướng đến tầng thứ tối cao: “Lúc bỗng nhiên gặp người trong đạo đến, lại phải như thế nào?”
Mã Tổ Đạo Nhất thở dài: “Dạy cho anh ta thể hội đại đạo”.
Tức tâm tức Phật cũng được, chẳng phải tâm chẳng phải Phật cũng được, chẳng phải vật cũng được, đều là lá vàng để dỗ trẻ con mà thôi, đều là để cho chúng ta thông qua nó mà thể ngộ đại đạo. Thiền tâm không có chỗ trụ, không thể chấp trước bất cứ một thứ gì. Cho nên, qua sông rồi nên vứt thuyền, được cá rồi quên nơm.
Một trong những vị đệ tử quan trọng của Mã Tổ là Bàng Cư Sĩ, rất nổi tiếng trong lịch sử Thiền tông, hỏi rằng: “Như nước không gân xương có thể thắng được thuyền lớn vạn hộc, nghĩa là thế nào?”
Mã Tổ quở rằng: “Ở đây không có nước mà cũng không có thuyền, nói gì mà gân xương?”
Tinh tuý của thiền ở ngay nơi thể nghiệm sinh mạng và chứng ngộ chân lý, chứ không phải ở nơi học tập triết lý và tri thức, nếu là mùi vị mà cứ dựa trên chữ nghĩa để viết văn chương thì càng rơi vào sai lầm.
Đương thời, Mã Tổ Đạo Nhất và Quốc sư Huệ Trung ở Nam Dương (xem “Thiền Đông Thiền Tây, Vô Phùng Pháp”) tuy là người của hai thời đại khác nhau, nhưng lại bạn bè thâm giao thường tin tức qua lại. Một hôm, thị giả của Quốc sư Huệ Trung - vẫn còn là một Sa di nhỏ tuổi tên là Đam Nguyên hành cước đến chỗ Mã Tổ, Sa di vẽ trước mặt Mã Tổ một hình tròn, sau đó lễ bái, rồi đứng im chẳng nói lời nào.
Hình tròn, tượng trưng cho Phật tánh viên mãn, biểu thị cho Niết bàn thanh tịnh, cho nên nói ‘Thân hiện tướng trăng tròn để biểu thị thể của chư Phật’. Vì thế, mã Tổ nghiêng nghiêng người về phía trước, cúi người xuống, hỏi một cách thân thiết: “Tiểu Đam Nguyên, chẳng phải con muốn làm Phật sao?”.
Không ngờ, tiểu Sa di chẳng chút cảm kích, nói rằng: “Đam Nguyên con không biết nặn con mắt của mình”.
Trong hư không vốn không có hoa đốm, những người mắt bị bệnh vì con mắt có màng mắt, thường ở trong cái không lại thấy có, nhìn thấy hoa đốm ở trong hư không. Phật giáo lấy đó để ví dụ cho cảnh giới vốn không có thực thể, do vọng kiến mà khởi lên cái biết sai lầm cho là thật có. Đứng trên quan điểm Đệ nhất nghĩa đế mà nói thì pháp không được thành lập, ý niệm thành Phật cũng lại như vậy, hư ảo không thật, giống như con mắt bị nhặm nên thấy những ngôi sao huyễn hoá loạn xạ ở trong hư không vốn thanh tịnh.
Mã Tổ Đạo Nhất cảm khái nói: “Ta không bằng con”
Câu nói ‘không mang ý tốt’ này của Mã Tổ giống như trong bông có dấu kim, không thể cầm nắm được, bạn cho là thật tức là bị lừa rồi - lầm cho huyễn hoá là thật có, cho nên Tiểu Đam Nguyên dường như không nghe thấy, không cho là mình đã hiểu.
Đức Phật dạy: “Bốn thứ nhỏ (Rồng nhỏ, Vua nhỏ, Đốm lửa nhỏ, Sa di nhỏ tuổi) không thể xem thường được” cũng không sai vậy!
Đường đường là Mã Tổ cũng có lúc mất móng chân trước. Nghe nói, trước lúc Mã Tổ ngộ đạo đã từng trồng chuối.
Sau khi Mã Tổ Đạo Nhất đi theo Đạo sư Nam Nhạc Hoài Nhượng được khai ngộ, điều đầu tiên Ngài nghĩ đến là trở về quê hương.
Cổ nhân nói: “Phú quý không trở về quê xưa, như áo gấm đi đêm”. Mây xanh đắc chí, áo gấm về quê, tổ tông vinh quang là một việc vui lớn trong cuộc đời! Người đã khai ngộ, bị hủy đi danh dự cũng không lo sợ, vinh hay nhục đều quên. Cho nên, sự dẹp đường về quê của Mã Tổ, thứ nhất là vì hoằng dương Phật pháp, thứ hai là vì báo đáp ân dưỡng dục ở quê xưa.
Mã Tổ Đạo Nhất có dị tướng bẩm sinh, có khí khái vương giả, có dáng đi của trâu, nét nhìn của hổ, đưa lưỡi lên quá mũi, dưới chân có hai vòng hoa văn. Thế mà, thân phụ của Ngài không phải là Vương tôn quý tộc gì mà chỉ là một người buôn bán nhỏ đi khắp nơi bán gầu xúc, ngay tên của ông họ cũng không nhớ, chỉ gọi ông là ‘Mã Gầu Xúc’.
Mọi người ở quê nghe nói, một vị Cao tăng đắc đạo từ Hồ Nam xa xôi sắp đến, nên cứ ngẩng đầu ngóng trông, còn bày ra một pháp đài cao cao chuẩn bị mời Cao tăng đăng đàn diễn thuyết Phật pháp thần kỳ, đồng thời cũng có thể giúp cho mọi người chiêm ngưỡng phong thái, quỳ bái đảnh lễ. Sự mong đợi thành kính của mọi người cuối cùng đã đạt được kết quả.
Đến rồi, đến rồi, Cao tăng đến rồi! Cao tăng, … ồ, cái gì mà Cao tăng đắc đạo, đây chẳng phải là con trai của Mã Gầu Xúc sao? Ồ, đúng là con trai của Mã Gầu Xúc rồi! Mọi người la lên rồi giải tán, bởi vì họ không tin con trai của Mã Gầu Xúc có thể khai ngộ đắc đạo, thành Phật làm Tổ. Mã Tổ lại rất cảm khái, nói: “Học đạo không về quê, về quê đạo không thơm”.
Người ta chỉ tin tưởng những Hoà thượng từ phương xa đến mới biết tụng kinh, chỉ sùng bái những nhân sĩ phú quý áo gấm về quê.
Vì thế, Mã Tổ đành mang hành trang lên lại cầm Thiền trượng chuẩn bị rời khỏi cố hương lần nữa, đi xuống miền cuối sông. Gặp chị dâu ở ngay cổng lớn của chùa, chị dâu ngăn bước của Ngài, xin Ngài truyền thọ Phật pháp cho. Mã Tổ cười nói: “Chị tin tưởng tôi thật sao? Hay là chỉ an ủi tôi thôi?”
Dịch phẩm
• 17/03/2017, 06:01
Nay xuống bút vài hàng ngụ ý Tả đôi lời hữu chí cánh thành Sống trong bầu vũ trụ đã đành! Sao nhắm mắt đưa theo chiều gió?Nay xuống bút vài hàng ngụ ýTả đôi lời hữu chí cánh thànhSống trong bầu vũ trụ đã đành!Sao nhắm mắt đưa theo chiều gió?
Dịch phẩm
• 17/03/2017, 06:01
Ánh Sáng Mật Tông được biên soạn để giới thiệu một dạng Phật giáo và trình bày phương pháp để quý độc giả có thể vận dụng để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.Ánh Sáng Mật Tông được biên soạn để giới thiệu một dạng Phật giáo và trình bày phương pháp để quý độc giả có thể vận dụng để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.
Dịch phẩm
• 17/03/2017, 06:01
Chủ đề chính của quyển sách này là nhằm tìm lại những bước đi lịch sử của Phật giáo ở xứ Hoa Đào để thấy tiến trình lịch sử và tiến trình bản địa hóa của Phật giáo ở đây diễn ra như thế nàoChủ đề chính của quyển sách này là nhằm tìm lại những bước đi lịch sử của Phật giáo ở xứ Hoa Đào để thấy tiến trình lịch sử và tiến trình bản địa hóa của Phật giáo ở đây diễn ra như thế nào
17/03/2017, 06:01
Nay xuống bút vài hàng ngụ ý Tả đôi lời hữu chí cánh thành Sống trong bầu vũ trụ đã đành! Sao nhắm mắt đưa theo chiều gió?Nay xuống bút vài hàng ngụ ýTả đôi lời hữu chí cánh thànhSống trong bầu vũ trụ đã đành!Sao nhắm mắt đưa theo chiều gió?
17/03/2017, 06:01
Ánh Sáng Mật Tông được biên soạn để giới thiệu một dạng Phật giáo và trình bày phương pháp để quý độc giả có thể vận dụng để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.Ánh Sáng Mật Tông được biên soạn để giới thiệu một dạng Phật giáo và trình bày phương pháp để quý độc giả có thể vận dụng để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.
17/03/2017, 06:01
Chủ đề chính của quyển sách này là nhằm tìm lại những bước đi lịch sử của Phật giáo ở xứ Hoa Đào để thấy tiến trình lịch sử và tiến trình bản địa hóa của Phật giáo ở đây diễn ra như thế nàoChủ đề chính của quyển sách này là nhằm tìm lại những bước đi lịch sử của Phật giáo ở xứ Hoa Đào để thấy tiến trình lịch sử và tiến trình bản địa hóa của Phật giáo ở đây diễn ra như thế nào