TẮC THỨ CHÍN: KHẾ NGỘ TỰ NGÃ
Mã Tổ truyền thừa được tám mươi bốn vị Đại tông sư, mỗi mỗi trong số họ đều thấu tỏ trời đất, quát gió gọi mây. Trong số nhiều huynh đệ đó, Ma Cốc Bảo Triệt khâm phục nhất là sư huynh Nam Tuyền Phổ Nguyện. Ngài đã từng đi theo Nam Tuyền Phổ Nguyện đến Trường An tham yết Quốc sư Huệ Trung, giữa đường bị một vòng tròn của Nam Tuyền mà quay lại; Họ cũng đã từng kết bạn đi Hàng Châu thăm viếng một vị Quốc sư khác là Kính Sơn Quốc Nhất, lại một phen ở nửa đường gặp phải một bà lão bán nước trà có kinh nghiệm tu luyện.
Hôm nay, Thiền sư Ma Cốc Bảo Triệt lại xách tích trượng ra ngoài hành cước.
Đầu tiên, Ngài đi đến phía Bắc phủ Kinh Triệu, tìm đến đạo tràng của một sư huynh đồng môn là Thiền sư Hoài Huy – chùa Chương Kính. Đi mấy ngàn dặm, khó khăn lắm mới gặp được sư huynh đã xa cách nhiều năm, thế mà chẳng chào hỏi gì, chỉ đi ba vòng quanh Thiền sàng của Thiền sư Chương Kính Hoài Huy, nện tích trượng xuống, đứng đó hồi lâu nhưng im lặng chẳng nói gì.
Các Thiền tăng thời xưa vân du tham học, một đôi giày cỏ đi khắp chốn tòng lâm trong thiên hạ, một cây tích trượng lượng hết Thiền nhân trong chín châu, chẳng qua cũng chỉ cần một việc khai ngộ kiến tánh này. Cho nên, hễ đến một nơi nào, đương nhiên họ phải biết rõ vị lão Hoà thượng đang ngồi cao cao trên thiền sàng có phải thật có pháp nhãn không. Đây gọi là ‘tân nghiệm chủ’ (khách nghiệm chủ), bạn có biết, năm đó Đại sư Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê gặp Lục Tổ, cũng đã từng đi nhiễu bên phải ba vòng, dựng tích trượng mà đứng, để lại một giai thoại thiên thu ‘Nhất Túc Giác’ (xem Tùng Thư ‘Thiền Đông Thiền Tây’).
Thiền sư Chương Kính Hoài Huy nhìn ông gật gật đầu, nói: “Đúng rồi, đúng rồi”.
Ma Cốc lại cầm tích trượng xuống phía Nam, đi đến mấy ngàn dặm, từ ven sông Vị Hà ở Thiểm Tây đi đến bờ Trường Giang ở Trì Dương An Huy. Vì ở đó có Thiền viện Nam Tuyền do sư huynh Phổ Nguyện trú trì.
Trong phương trượng, Đại sư Nam Tuyền đang ngồi thiền. Lúc Ngài nghe có tiếng người đi vào nhà, từ từ mở mắt ra, Ngài không khỏi vừa kinh ngạc vừa mừng vui – Ngài nhìn thấy sư đệ với mình tình như thủ túc – Ma Cốc Bảo Triệt gió bụi dặm trường đến thăm. Ngài vừa muốn bước xuống thiền sàng đón tiếp nhưng Ma Cốc lại mặt mày rất nghiêm túc, đoan trang, bước tới trước một bước, đi quanh thiền sàng của Ngài ba vòng, khua khua tích trượng rồi đứng yên lặng.
Nam Tuyền thấy như vậy lắc đầu nói: “Không đúng, không đúng!”
Chúng ta nên biết rằng Ma Cốc lại mang câu nói ‘đúng rồi, đúng rồi’ của Thiền sư Chương Kính Hoài Huy mà đến, cho nên lúc đó Ngài liền nói Chương Kính nói đúng, sao Đại Hoà thượng lại nói không đúng?”
Nam Tuyền nói: “Chương Kính thì đúng, chỉ do ngươi không đúng, đây chỉ là sự chuyển động do sức gió, không phải xuất phát từ tự tánh, cuối cùng cũng không tránh khỏi sự tan hoại”.
Động tác mà Ma Cốc đã làm đều giống nhau, tại sao một người lại nói đúng, một người lại nói sai? Năm đó, Đại sư Hoằng Giác làm xong động tác này rồi, Lục Tổ Huệ Năng bảo rằng: “Một người xuất gia nên biết lễ nghi, bạn từ đâu đến mà lại ngạo mạn như thế?”.
Vì sao Lục Tổ nói Đại sư ngạo mạn? Đã không nói Ngài đúng, cũng không nói Ngài là không đúng, rốt cuộc thì như thế nào mới đúng?
Một lời nói khế hợp muôn kiếp làm cọc buộc lừa. Thật ra, đúng và sai vốn là những lời lẽ khế hợp với mặt mũi xưa nay, nhưng nó cũng giống như cái cọc gỗ buộc lừa. Nếu bạn chỉ tìm hiểu trên phương diện này mà không phải là do sở đắc từ tự tánh thì chính là bị chuyển do sức gió, há chỉ đem bản thân ra làm một con lừa ngu ngốc cột vào trong đó để ngàn năm cũng khó mà thoát khỏi.
Thiền tâm linh động, pháp không phải là định pháp, như tự chứng ngộ, tự khẳng định làm cho tự ngã thăng hoa.
Thiền sư Bảo Triệt sở dĩ được gọi là ‘Ma Cốc’ bởi vì lúc về già, Ngài trú trì tại núi Ma Cốc Bồ Châu (nay là phía Tây huyện Vĩnh Tế tỉnh Sơn Tây). Đó là vùng đất nằm bên bờ sông Hoàng Hà nơi giáp ranh của tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây. Trong lịch sử những cây cầu của thế giới có dự định kế hoạch xây dựng cây cầu nổi trên sông Hoàng Hà ở Vĩnh Tế mang ý nghĩa thời đại cũng cách chùa của Ngài không xa lắm.
Một năm nọ vào giữa mùa hè, một vị tăng hành cước đến Thiền viện Ma Cốc, thấy Thiền sư Ma Cốc Bảo Triệt đang phẩy quạt, nên hỏi: “tánh của gió thường trú, ở đâu cũng có, vì sao Hoà thượng lại phải quạt?”
Ma Cốc trả lời: “ngươi chỉ biết tánh của gió thường trú, mà không biết ở đâu cũng có”.
Tâm của Thiền tăng giờ giờ phút phút phải trú trong sự linh động sáng suốt thanh tịnh, cho nên Ngài lập tức nhạy bén nắm lấy thiền cơ vi diệu, đánh rắn tuỳ theo gậy, nên hỏi tiếp: “Lý lẽ ở đâu cũng có là gì vậy?”
Ma Cốc yên lặng không đáp, chỉ tiếp tục phe phẩy chiếc quạt trong tay- Thiền lý đã có mặt khắp nơi, đương nhiên cũng chính ở trên sự dao động của cái quạt! Thiền tăng nhanh chóng khế nhập thiền cơ vi diệu, niềm vui khai ngộ khó mà miêu tả hết, tình cảm cảm kích đối với Sư phụ cũng không thể nào dùng lời lẽ để biểu đạt, nên Thiền tăng quỳ rạp xuống đất, không ngớt dập đầu bái tạ.
Thiền tăng Lương Toại vốn là một vị Pháp sư rất có danh tiếng, ông nghiên cứu kinh luận nhiều năm, mỗi khi ông đăng đàn giảng kinh trong Giảng tứ (nơi tuyên giảng Phật pháp) ở Bồ Châu, mấy trăm thính chúng dường như đang tắm gội gió xuân, uống nước cam lồ, nghe đến nổi sung sướng ngây ngất, như mê như say. Thế mà, danh vọng ngày càng tăng và vinh dự bao trùm trời đất cũng hoàn toàn không thể tiêu trừ những nghi hoặc trong nội tâm sâu thẳm của mình. Ông tự biết rất rõ ràng, tuy mình có những hiểu biết về vũ trụ nhân sinh, nhưng lại còn có nhiều điều chưa hiểu biết, lấy cái biết hữu hạn để suy luận cái chưa biết vô hạn cũng chỉ là người mù rờ voi; Mà sự giảng kinh thuyết pháp của ông càng như người mù dẫn người mù, giống như người mù cưỡi ngựa mù, trong đêm tối đi gần đến vực sâu…
Thế là, ông mang một mối nghi hoặc lớn lặng lẽ rời khỏi Giảng tứ, đi tham yết Thiền sư Ma Cốc. Tại phương trượng, ông đổ núi vàng, nghiêng trụ ngọc, năm vóc sát đất quỳ bái đảnh lễ Thiền sư Ma Cốc – nên biết, vài năm lại đây, ngoài lễ Phật ra, còn toàn là người ta quỳ lễ bái ông! Thế mà, Ngài chưa kịp đứng dậy, càng không kịp thưa hỏi những câu hỏi như ‘Gì là tâm yếu của thiền? Đại ý của Phật pháp?’, Thiền sư Ma Cốc đã nghênh ngang bỏ đi.
Ngài cầm lấy cuốc, tự chăm sóc thửa ruộng hoang sơ của mình.
Đây là hạng người nào? Tại sao ngay lễ tiết tối thiểu cũng không hiểu?
Lương Toại đứng ngây ra nơi pháp đường, trong lòng ông vốn đã chứa đầy nghi hoặc, bây giờ lại phát sinh thêm một mối nghi tình lớn. Đúng là thêm sương trên tuyết, đã uất ức còn cho thêm oan trái, đêm đen như mực lại bị đánh thêm một đấm vào mắt. Thế mà, trong hành động không hợp tình hợp lý của Ma Cốc, Ngài lại thấp thoáng cảm nhận ra một vài điều gì đó? Rốt cuộc là điều gì? Ngài lại không nói rõ ràng ra, thế là Ngài lại đứng lên, đuổi theo phương hướng đã mất dạng của Thiền sư Ma Cốc.
Một vùng biển xanh ngắt, một vùng trời hy vọng. Thiền sư Ma Cốc vung cuốc, xem ra đám cỏ hoang cành lá đan xen khó gỡ, rối tung rối bời, gặp phải nhát cuốc sắc bén thì ôi thôi chẳng còn gì – phiền não của con người cũng giống như cỏ hoang tạp loạn, chẳng có đầu mối, căn nuyên, nếu như cũng có thể vứt bỏ đi, đoạn tận cội gốc thì tốt biết bao!
Lương Toại đứng rất lâu bên bờ ruộng, Thiền sư Ma Cốc chỉ dốc toàn tâm toàn ý cuốc cỏ, chẳng thèm để ý tới ông.
- Đây chính là đang chỉ thị thiền yếu! Lao động tức là tu thiền, cuốc cỏ chính là chặt đứt phiền não. Đáng tiếc, Lương toại chưa thể khế cơ, bỏ lỡ cơ hội.
Đợi Thiền sư Ma Cốc cuốc đến bờ ruộng bên kia, Lương Toại mới chắp hai tay, vừa muốn mở lời thỉnh giáo nhưng Ngài giống như người chưa bói đã biết sớm nhìn thấu tâm tư của Lương Toại, quay người lại, đi về chùa, rồi gài chặt cửa phương trượng.
Lương Toại đành cúi đầu, chẳng còn cách nào nên bỏ đi. Sáng sớm hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, Lương toại đã vội vàng đến Thiền viện Ma Cốc. Thế mà, Thiền sư Ma Cốc thấy ông ta vội vội vàng vàng đi đến, ‘hứ’ lên một tiếng rồi đóng cửa phòng lại.
- Một tiếng đóng cửa khá lớn! Nhưng Lương Toại suốt đêm trong lòng mệt nhoài lảo đảo, chẳng để ý được nhiều như thế, ông bất chấp tất cả, bổ nhào tới trước cửa, giáng mạnh vào cửa phương trượng những tiếng kinh động, giống như trống đánh giặc.
“Thùng, thùng, thùng! Thùng, thùng, thùng,…”
“Ai?” Một tiếng hét lớn bên trong cửa.
“Con, Lương Toại”.
Ai ngờ, ông vừa mới trả lời tên của mình: “Lương Toại”, đột nhiên dường như có một tiếng vọng lớn ‘thình’. Mối nghi trong lòng Lương Toại nổ tung! Giống như nước lũ bị vây khốn trong trăm ngàn vạn năm, cuối cùng đã tìm ra nơi thoát. Những nghi hoặc khốn đốn kia giống như những nỗi phiền muộn uất ức, những cặn bã không thể tiêu hoá chất chứa trong lòng đều được trút hết.
Cảnh giới khai ngộ kỳ diệu như thế đấy!
Chẳng biết trải qua bao lâu, có thể là một năm, có thể là trăm ngàn đại kiếp, lúc đất hoang trời già, cũng có thể đó chẳng qua chỉ là một chớp mắt cực ngắn (nháy mắt và vạn kiếp có xa cách gì đâu). Lương Toại tỉnh lại từ trong trạng thái tinh nhanh nhạy bén, ông đứng trước cửa phòng Ma Cốc chắp tay thưa: “Hoà thượng chớ quở trách con, nếu con không đến lễ bái Ngài, chút nữa là bị kinh sách lừa dối suốt đời rồi”.
Liên quan đến thiền cơ: Tự Báo Họ Tên
Vào một đêm hôm nọ, một tên ăn trộm bí mật xâm nhập vào nhà một người khác. Thế rồi, hắn ta tìm đông, tìm tây, ngoài trừ gạo trong hủ ra thì chẳng có vật gì đáng để lấy cả. Cũng không thể tay không mà ra về được. Vì thế, hắn cởi áo choàng ngoài trải lên trên đất, quay người lại đổ gạo trong hủ ra. Nhưng ngay lúc hắn trút gạo lại phát hiện áo choàng của mình không còn nữa.
Hoá ra, lúc tên trộm mới vào nhà, người đàn ông trong nhà đã tỉnh giấc. Anh ta nghĩ, dù sao thì trong nhà cũng chẳng có thứ gì đáng giá, nên cứ nằm yên. Sau đó, lúc anh ta nhìn thấy tên ăn trộm dùng áo để bọc gạo, bèn lặng lẽ đưa cái móc ra khều cái áo kia lại.
Lúc đó, người đàn bà cũng nghe có tiếng động tĩnh, liền nói với người đàn ông: “Hình như có ăn trộm, anh dậy xem xem”.
Người đàn ông nói: “Em ngủ đi, có ăn trộm nào đâu!”.
Người đàn bà chìm trong mông lung, nửa tin nửa ngờ, lẩm bẩm: “Nhưng mà, em thấy hình như…”
“Chắc chắn em đang nằm mơ thôi, trong nhà chúng ta làm gì có ăn trộm”.
Ai ngờ, lúc này tên ăn trộm không nhịn được nữa mở miệng nói: “Tại sao không có trộm? Ta mới trải áo choàng ra nền đất, quay lại thì chẳng thấy nữa”.
Người đàn ông nói: “Ngươi là ai? Đợi ta tìm ra áo sẽ đưa cho ngươi đem về!”.
“Tôi là ‘A Nhị’”.
Khen rằng: “Trộm gạo không được lại mất áo,
Tự khai nhà cửa lộ tông tích;
Lương Toại hai chữ nói ra miệng,
Ngộ được tự ngã vốn giống Phật”.
Tên trộm khai rõ tên họ của mình rồi, bỗng nhiên tỉnh ngộ ra, mình vốn là ăn trộm!
Thiền giả nếu ngay lúc đó thừa nhận chính mình, thì cũng sẽ hoát nhiên đại ngộ. Mặt mũi xưa nay của chính mình vốn là bản thân chân thật chẳng khác gì chư Tổ các đời.
Cuối đời nhà Minh, ở Ma thành hoàng Châu có một thiếu niên họ Hùng mới mười sáu tuổi đột nhiên bị bệnh đậu mùa, hơi thở thoi thóp, tính mạng nguy hiểm. Anh trai lớn và chú của nó trong tình trạng hết sức lo lắng, quỳ xuống trước tượng Bồ tát cầu nguyện. Xin Bồ tát phù hộ, nếu như thiếu niên có thể giành lại được tính mạng, đợi sau khi nó lành bệnh sẽ cho nó xuất gia.
Nói ra cũng linh, quả thật thiếu niên họ Hùng lành bệnh. Thế là, nó liền đến Đãng Sơn cắt tóc đi tu, pháp danh là Vô Niệm. Vô niệm xuất gia hoàn toàn không phải cam tâm tình nguyện, cho nên một ngày làm Hoà thượng là một ngày chán nản, từ trước đến nay chưa hề dụng tâm tu hành. Một hôm, một vị lão tăng trịnh trọng dặn dò cậu ta: “Một hạt gạo trong chùa lớn như núi Tu Di, ăn cơm không tu học phải mang lông đội sừng mà trả nợ”.
Vô Niệm nghe xong không khỏi dựng tóc gáy: ‘Đúng vậy! Bạn là người xuất gia, chẳng làm việc gì, chỉ toàn hưởng dụng sự cúng dường của tín chúng, nếu như không tu hành, đương nhiên phải làm trâu làm ngựa để đền trả sự bố thí cúng dường của người ta!’.
Vô Niệm tự phát thệ nguyện: ‘Đời này nhất định phải thông suốt việc lớn sanh tử!’.
Cậu thu xếp hành lý, cầm gậy trúc đi hành cước tham học. Trên đường vân du, cậu đã từng nghe một vị Tăng nhân đưa ra một công án như thế này: Có một vị Tăng hỏi Thiền sư Đại Hưu: “Ý của Tổ sư từ Tây Thiên đến là gì?” Thiền sư Đại Hưu trả lời: “Dưa vàng trái cà”.
Vô Niệm rất kinh ngạc: Lẽ nào dưa, cà những thứ bình thường này chính là ý chỉ mà Tổ sư Đạt Ma mang từ Tây Thiên đến? Cậu ta thật không thể hiểu được áo diệu ở trong đó, trong lòng rất nghi hoặc. Cậu ta mang mối nghi hoặc nặng nề này thẳng đến Lộ Sơn tham bái Thiền sư Đại An. Thiền sư Đại An vừa thấy cậu ta bèn hỏi: “Con tên là gì?”
“Vô Niệm”. Vô Niệm trả lời tên của mình, đương nhiên rất quen thuộc.
“Vô Niệm là ai?”
Thiền sư Đại An hỏi rất lạ lùng, Vô Niệm mù tịt, không thể đối đáp. Thật đúng là đã có tuyết lại còn thêm sương, trong oan khuất lại thêm tai ương. Vốn cậu ta muốn giải quyết mối nghi hoặc trong lòng, không ngờ lại bị úp thêm một đầu sương mù, đúng là tìm không ra đâu là phía Bắc – Ai là Vô Niệm? Vô Niệm là ai?
Cậu ta đứng ngồi không yên, chẳng màng đến cơm nước, suốt ngày suốt đêm tham cứu câu thoại đầu này. Tham mãi đến lúc trời đen đất tối, chẳng biết Đông, Nam, Tây, Bắc gì gì nữa cả. Tham mãi, tham đến như ngây như dại, không biết thân đang ở đâu, tâm ở phương nào? Một hôm, lúc cậu đi vào nhà bếp, nhìn thấy một thau bột để trên đất, rất là trở ngại, bèn bưng đặt vào tủ. Do cậu không để ý – đang mãi tham thiền, lỡ tay đụng phải cửa tủ, bỗng cửa tủ đập lên đầu cậu ta –
Một tiếng ‘ầm’ bất ngờ bỗng nhiên đánh vỡ mối nghi trong lòng cậu ta, dường như trong chốc lát cậu ta bị rơi từ trong thùng sơn đen ra, người toát mồ hôi dầm dề, trước mắt là một vùng ánh sáng chói loà!
Vô Niệm nhìn lên trời cười ha hả: “Khắp mặt đất đâu đâu cũng là ‘Vô niệm’, chẳng còn nghi ngờ gì nữa”
(Phụ chú: Trong Thiền tăng thường thường dùng ‘giặc’ để khoa trương cơ trí của đối phương. Thiền sư Tuyết Phong cũng đã từng khen ngợi Tổ sư Lâm Tế Nghĩa Huyền là ‘bạch niêm tặc’ – không để lại dấu vết gì. Đồng thời Thiền tông cũng thường đêm sự bỗng nhiên phát hiện bản lai diện mục, hoát nhiên đại ngộ, nên nói ‘bắt giặc bắt được trái tim’ (tróc tặc hoạch tạng) ).
TẮC THỨ MƯỜI: QUY TÔNG CHÉM RẮN
Thiền sư Quy Tông Trí Thường, thường kết bạn với Nam Tuyền Phổ Nguyện hành cước. Hai vị này là đồng môn, học vấn lại tương đương, khí chất tương đồng, thấy biết giống nhau, ngay hình dáng cũng có mấy phần tương tợ, lại thêm hai vị đều là người có thần thái kỳ dị riêng có của người đã khai ngộ, cho nên mọi người thường lẫn lộn hai vị này với nhau. Trong mắt trí Thường có vảy cá, lúc Ngài đang dùng thuốc xoa bóp trị liệu, do chưa nắm bắt được lượng thuốc cho phù hợp, nên hai mắt đều đỏ lên. Cũng tốt, lần này người ta phân biệt rõ giữa Ngài và Nam Tuyền – vì thế, người đời gọi Ngài là ‘Quy Tông Mắt Đỏ’.
Vào một năm nọ, lúc hai vị đang trên đường vân du đến Lô Sơn, Trí Thường yêu thích phong cảnh đẹp đẽ nơi đây, bèn ‘lạc thảo’ tại đó – hoàn toàn không phải lạc thảo là làm cướp. Thiền sư làm ‘Lạc thảo’ là vì họ vốn đã liễu sanh thoát tử, hoàn toàn có thể an trú trong niềm vui thiền định thanh tịnh, thoải mái nhàn hạ. Nhưng, để phổ độ chúng sanh họ không tiếc hạ thấp thân phận của mình, ở trong hiện thực phiền não, ô trược để giáo hoá chỉ dạy cho người sau, nên gọi là ‘lạc thảo’.
Bồ tát Địa Tạng Vương bảo: “Ta không xuống địa ngục, ai xuống địa ngục?”, chính là bản thâộtàn tâm toàn ý làm lạc thảo.
Thiền sư Trí Thường trú trong chùa Quy Tông rất nổi tiếng. Chùa Quy Tông là chùa xưa nhất ở Lô Sơn, nằm gần suối Ngọc Liêm dưới chân núi Kim Luân phía Nam Lô Sơn. Nó vốn là biệt thự của Vương Hữu Quân – Vương Hy Chi nhà thư pháp vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc. Năm thứ sáu niên hiệu Hàm Khang đời Đông Tấn (340 Tây lịch). Vương Hy Chi, một tín đồ thuần thành của Phật giáo, mở rộng xây dựng thành một ngôi chùa. Cung thỉnh Ngài Phật Đà Da Xá là một nhà phiên dịch kinh điển Phật giáo rất nổi tiếng một Cao tăng Ấn Độ, vào trú trì. Trong thời nhà Tống, em của Tô Đông Pha – Tô Triệt – cũng tôn sùng Thiền tông như Tô Đông Pha, từng có bài thi phú:
Đến nghe Quy Tông chuông sớm hôm,
Vất vả buồn lo đến tiêu phong,
Hồ xanh đá rải trong khe suối
Bạch tháp vi phân trên núi tùng.
Cửa Phật vút cao cùng mây núi,
Bếp tăng ngồi đợi thập phương cúng.
Muốn dạo núi bắc chùa đông tây,
Hang đá nối nhau đến mấy tầng.
(Lai thính Qui Tông tảo vãn chung,
Bì lao lại thượng tử tiêu phong.
Mặc trì mạn luỹ khê trung thạch,
Bạch tháp vi phân lĩnh thượng tùng.
Phật vũ tranh hùng nhất sơn giáp,
Tăng trù toạ đãi thập phương cúng.
Dục du sơn bắc đông tây tự,
Nham cốc tương liên cánh chỉ trùng.)
Bạch tháp được ông nhắc đến trong bài thơ là một ngôi phù đồ (tháp Phật) rất tinh xảo, đẹp mắt ở đỉnh núi phía sau. Truyền thuyết cho rằng chính là tháp xá lợi của Phật Đà Da Xá.
Những ngôi chùa lớn nhỏ ở Khuông Lô tính đến mấy chục ngôi. Sở dĩ Chùa Quy Tông sau này đứng vào bậc nhất ở Lô Sơn, chủ yếu không phải do ở sự quy mô của nó mà nhờ đạo phong tu hành. Giữa niên hiệu Hiến Tông Nguyên Hoà đời nhà Đường (806 – 820 Tây lịch), Thiền sư Trí Thường lại mở rộng chùa chiền, nêu cao ngọn cờ đốn ngộ Thiền phong được truyền thừa thành một ngôi chùa lớn nhất ở Lô Sơn. Tên “Quy Tông” của nó cũng chính nhờ vậy mà có.
Trồng Ngô Đồng cốt để mời chim Phượng, ao sâu thả tơ để câu rồng dữ.
Tên tuổi Quy Tông Mắt Đỏ đã sớm vang khắp Thiền lâm, tin tức Ngài giảng pháp tiếp chúng ở Lô Sơn cứ mãi truyền ra. Tăng nạp trong thiên hạ đua nhau hội họp về. Mấy trăm Thiền tăng tề tập về pháp đường chuẩn bị rửa tai cung kính lắng nghe những lời khai thị thiền yếu tinh diệu. Ai ngờ, Quy Tông lại nói: “Các vị chớ dụng sai tâm, ở đây không có chỗ cho các vị dụng tâm. Các vị tìm gì ở đây? Đừng bao giờ tìm kiếm kiến giải trên thân thể người khác, bất kỳ người nào cũng không thể giác ngộ và giải thoát thay cho các vị. Tâm tánh các ngươi không thông, ánh sáng không chiếu, chính vì do tâm còn chướng ngại, trước mắt còn có vật vướng”.
Có một vị Thiền tăng rất dũng cảm, nghe những lời biện luận hùng hồn này vẫn dám đứng lên thưa hỏi: “Thưa Đại Hoà thượng, ý chỉ huyền diệu của Thiền là gì?”
Ngài Quy Tông mỉm cười, bảo: “Đã là Thiền chỉ huyền diệu thì không ai lãnh hội được”.
Đạo lớn vô môn, vô môn tức pháp môn; thiền chỉ huyền diệu, không có ai lãnh hội được; Đó chính là lãnh hội nơi chỗ không thể lãnh hội! thế mà Thiền tăng lại bỏ qua thiền cơ nhạy bén của Thiền sư Quy Tông ngay lúc đó, vẫn cứ xem Thiền là thứ thực có, nên không hiểu, thưa tiếp: “Vậy thì, có người cứ nghĩ đến ý chỉ của Thiền, thì nên làm như thế nào?”
Thiền sư Quy Tông nhẫn nại giải thích: “Cứ nghĩ đến chính là chấp trước, là trái với tông chỉ của Thiền”.
Đã không thể hướng đến, thế thì đừng hướng đến nữa. Tâm trí của Thiền tăng rơi vào trong nhị nguyên đối lập, nên cho rằng chẳng phải cái này tức là cái kia, chẳng phải cái kia tức là cái này, không ngừng so sánh, phân biệt, lựa chọn, cho nên ông lại hỏi tiếp: “Lúc không nghĩ về nó thì như thế nào?”
“Không nghĩ về, thì ai tìm cầu ý của Thiền tông vậy?” Thiền sư Quy Tông hỏi lại.
Bởi vì Thiền tăng trong lòng mờ mịt, cho nên bị hỏi lại càng mù tịt hơn. Bây giờ càng mù tịt, không còn thấy gì nữa. Thiền sư Quy Tông lắc lắc đầu, thở dài nói: “Đi di, ở đây không có chỗ cho ngươi dụng tâm”.
Nhưng, thói quen khó sửa. Thiền tăng lại dụng tâm ‘nơi đây’, hỏi theo một cách khác: “Thiền, lẽ nào lại không có cửa phương tiện, để cho những chúng sanh bị khổ nạn như chúng ta có thể khế nhập?”.
Gọi là phương tiện tức là thiện xảo, chỉ cho trí phương tiện và trí tuệ Bát nhã. Thiền sư đã khai ngộ , tâm hành tịch diệt, chứng đạt được thật lý, tức là trí tuệ Bát Nhã, họ có thể quán sát căn cơ của chúng sanh, thông hiểu trí tuỳ cơ ứng biến (quyền mưu) gọi là trí phương tiện. Quả nhiên, Thiền sư Quy Tông mở cửa phương tiện nói rằng: “Trí lực diệu kỳ của Quán Âm có thể cứu độ khổ ách của thế gian”.
Thiền tăng lại hăng hái: “Trí lực diệu kỳ của Quán Âm là gì?”
Thiền sư Quy Tông thuận tay cầm tích trượng gõ xuống nắp đỉnh ba cái, hỏi: “Nghe thấy không?”
“Nghe thấy rồi, nghe thấy rồi!”
Nhưng Thiền sư Quy Tông lại nói: “Sao ta lại không nghe thấy?”
Vị tăng kia cứng lưỡi không đáp được,Thiền sư Quy Tông quơ quơ thiền trượng, đuổi ông ta ra khỏi pháp đường.
Để đánh tan tâm lý ỷ lại của các đệ tử, đã lâu lắm Thiền sư Quy Tông không thăng toà thuyết pháp, mà có lên pháp đường thì Ngài cũng chỉ ngồi im lặng chẳng nói lời nào. Một hôm, Ngài ở trong pháp đường luôn miệng nói: “Hôm nay ta muốn giảng Thiền, các vị muốn nghe thì bước lên phía trước gần hơn một tí”.
Các đệ tử vội vàng quây quần lại, Thiền sư Quy Tông nói: “Ngươi nghe hạnh Quán Âm, khéo ứng hiện các nơi”.
Một đệ tử hỏi: “hạnh Quán Âm là như thế nào?”
Thiền sư Quy Tông duỗi tay ra, búng ngón tay, hỏi: “Các vị, các vị có thể nghe thấy không?”
Các đệ tử đồng thanh trả lời: “Có thể nghe thấy”.
Thế mà Thiền sư Quy Tông lại buột miệng chửi lớn: “Các người là một lũ ngu ngốc, đến đây tìm kiếm gì vậy?”
Vừa chửi, Ngài vừa múa thiền trượng, đuổi các đệ tử ra khỏi pháp đường, sau đó một mình cười lớn trở về phương trượng.
Thiền sư Quy Tông có một bài kệ, có lẽ có thể có ít nhiều bày tỏ được thiền cơ trong đó:
“Da trâu bịt đầu cột,
Đầu cột kêu hu hu,
Tai phàm không nghe thấy,
Chư thánh cười ha ha”.
( Ngưu bì vãn lộ trụ,
Lộ trụ thu thu khiếu,
Phàm nhĩ thính bất văn,
Chư Thánh kha kha tiếu.)
Một vị Thiền tăng muốn đi ra ngoài hành cước, lúc anh ta đến phương trượng cáo biệt, Thiền sư Quy Tông quan tâm hỏi xem anh ta đi đến nơi nào. Vị Tăng này đáp không đúng câu hỏi, thưa rằng: “Con đến các tòng lâm ở phía Nam Bắc Đại Giang, học tập năm vị thiền”.
Thiền sư Quy Tông nói: “Ở những nơi khác có năm vị thiền, ở chỗ ta chỉ có một vị thiền”.
Vị Tăng này xem ra cũng nhạy bén lập tức hỏi dồn: “Một vị Thiền là gì?”.
Thiền sư Quy Tông cũng không nói, đưa Thiền trượng lên rồi đánh Thiền trượng xuống. Gậy rơi xuống đầu, tư duy tính toán tự nhiên bị cắt đứt. Đó chính là một vị Thiền! Trong tâm Thiền tăng trống rỗng linh hoạt, nên vội vàng hét lên: “Sư phụ, đừng đánh, đừng đánh, con biết rồi!”.
“Nói, mau đi!”.
Vị Tăng này vừa muốn mở miệng, Thiền trượng của Quy Tông lại đánh xuống…
Thiền, mở miệng là sai, động niệm là quấy. Đợi bạn mở miệng, lại đánh cho thôi. Vị Tăng này rỗng rang tỉnh ngộ. Sau đó, anh ta vân du đến núi Hoàng Bá, tham bái Thiền sư Hy Vân. Thiền sư Hy Vân hỏi anh ta: “Sư thúc Quy Tông có dạy thiền gì không?”
Thiền tăng đem câu chuyện này kể với Ngài. Thiền sư Hoàng Bá Hy Vân tự cho mình rất cao tay. Ngoài Sư phụ Bách Trượng Hoài Hải của mình ra, ngay cả Nam Tuyền Sư Thúc cũng không chịu thua, nay lại chắp cả hai tay, tán thán rằng: “Mã Tổ truyền ra 80 vị đệ tử, nếu bị thiện tri thức hỏi, thì ai nấy đều như trẻ con, trong đũng quần ướt đẫm. Chỉ có Sư Thúc Quy Tông còn được như thế”.
Một mùa xuân nọ hoa rừng lãng mạn nở đầy, một vị Tăng vân du đạp lên hương hoa mà đến. Ngài chính là một đệ tử quan trọng nhất của Thiền sư Quy Tông – Phù Dung Linh Huấn. Dưới sự tôi luyện của Sư phụ, tuy Linh Huấn ngộ nhập được Thiền lý nhưng chưa thông suốt, chưa thấu triệt, trong tâm vẫn con ngưng trệ, một ít mây mờ che phủ. Ngài khắc khổ tham thiền tu học nhiều năm, Ngài toạ thiện tụng kinh, học tập giáo nghĩa,… Dường như Ngài đã nếm qua tất cả các phương pháp tu hành nhưng vẫn chưa có tiến bộ gì, cuối cùng vẫn chưa đạp phá được cửa tù sau chót. Ngài khổ não, tiều tuỵ, nhưng cũng chẳng còn cách nào. Trong một mùa gió bấc thổi mạnh, hoa tuyết bay bay, Linh Huấn nản lòng thoái chí đến từ biệt Sư phụ. Thiền sư Quy Tông hỏi Ngài đi đến đâu? Linh Huấn trả lời rất thương cảm: “Đệ tử ngu muội phải trở về quê hương Lĩnh Trung (Phúc Kiến), làm một ông Tăng lo bếp núc cho qua ngày thôi”.
Ngài Quy Tông trịnh trọng nói: “Con ở chỗ Ta đã nhiều năm, sửa soạn hành lý xong, quay lại đây một tí, Sư phụ sẽ nói thêm Phật pháp cho con một lần nữa”.
Linh Huấn rất cảm động, cho rằng chắc là Sư phụ muốn nói với mình Phật pháp tinh diệu bí mật gì dây. Ngài vội vàng thu dọn hành trang rồi đi đến pháp đường. Thiền sư Quy Tông vẫy vẫy Ngài lại, nói: “con đến gần một tí, ta có lời nói với con”.
Linh Huấn bước lên phía trước, Thiền sư Quy Tông sửa sửa áo lại cho Ngài rồi nói: “Con nên nhớ, thời tiết lạnh lẽo, trên đường đi nhớ bảo trọng!”.
Đột nhiên, những tri giải, giáo nghĩa trong lòng Linh Huấn liền quên sạch! Ngài đã đại triệt, đại ngộ.
Đạo không phải hư ảo kỳ bí, Thiền không có gì lạ lùng, càng bình thường càng dễ tiếp cận với chân đế của Thiền đạo.
Chùa Quy Tông dựa lưng vào Lô Sơn, phong cảnh thanh tú đẹp đẽ, hướng về thành Giang Châu (nay là Cửu Giang, cũng gọi là Tầm Dương) nổi tiếng trong lịch sử.
“Sông Tầm Dương đêm đêm tiễn khách
Lá Phong rơi hoa thu xào xạc
Ở trong đó ai người khóc ngất
Giang Châu Tư Mã áo dầm châu.
(Tầm Dương Giang đầu dạ tống khách
Phong diệp hoạch hoa thu sắt sắt
Toạ trung khấp hạ thuỳ tối đa
Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp).
Đây là bài thơ Tỳ Bà Hành lưu truyền thiên cổ của Bạch Cư Dị, cũng chính trong thời kỳ này, ông viết trong thời kỳ nhậm chức quan Tư Mã ở Giang Châu. Bạch Cư Dị hiệu là Cư Sĩ Hương Hải, là đệ tử đ