Thiền ngộ (Phần 6)

Ban TT-TT Hệ phái 19/04/2017, 08:36

TẮC THỨ 21: SA DI CAO THỌ GIỚI

Sa di Cao bẩm sanh dường như là một nhân vật huyền bí, trước nay chưa có ai biết ông từ đâu đến, sẽ đi về đâu, càng không ai biết quê hương của ông ở đâu, sư phụ là ai. Thậm chí, ngay đến pháp hiệu của ông, bạn bè cùng tham học với ông đều không biết được - mọi người chỉ biết ông họ Cao, nên gọi ông là “Sa di Cao”. Quanh năm suốt tháng ông vân du tham vấn khắp trong các tòng lâm, đến nỗi bàn chân sinh bệnh, bước đi tập tễnh. Thế là, con đường mây nước ngàn dặm dưới chân ông không có được một bước bằng phẳng - cuộc đời hành cước của ông từ đó luôn trở ngại vô cùng.

Năm nọ, ông từ Nam Nhạc Hằng Sơn xuống, bước thấp bước cao đi lên phía Tây Bắc cực kỳ gian nan. Ông phải đi đến Giang Lăng xa xôi hơn hai ngàn dặm để thọ giới.

Thọ giới, là một việc quan trọng nhất của một Tăng nhân. Nói một cách nghiêm túc, chỉ có thọ 250 giới điều cụ túc, mới có thể xem là một vị Tăng chính thức, mới có tư cách ra ngoài tham học.

Vốn dĩ, từ Hằng Sơn đến Giang Lăng có thể đi thuyền qua sông Tương xuôi dòng mà xuống đi ngang qua Hồ Động Đình 800 dặm, vào Trường Giang ngược dòng mà lên, tất có thể đến. Thế nhưng, chiếc thuyền tiền của này, một người xuất gia không có đồng tiền trong lưng há có thể thuê được sao! Vì thế, Sa di Cao vẫn phải dùng đôi chân chậm chạp của ông bước thấp bước cao, từng bước từng bước, để lần dò trên con đường vạn dặm kia. Ông qua sông Liên, vượt qua sông Tư, chẳng phải ngày một ngày hai mà từ trên đỉnh Nam Nhạc bên bờ sông Tương đến được dưới chân Dược Sơn ở Cảnh Nội - Vũ Lăng ( nay là Thường Đức) bên bờ sông Nguyên. Ông đang men theo một con suối nhỏ quanh co uốn lượn, tràn ngập ánh sáng thâm u và vang lên khúc nhạc thanh tĩnh, bỗng nhiên, trong con suối nhỏ phía trước truyền lại một giọng ngâm:

Vũ Lăng dòng sông hẹp

Thuyền chèo vào rừng hoa

Chớ bảo trong suối thẳm

Thần tiên biết bao xa

Nước về gặp chướng xanh

Mây qua suối xanh râm

Ngồi đây nghe vượn hú

Tâm bỏ ngoài trần lao.

Một lão ông, chèo một chiếc xuồng con, xuôi dòng mà trôi. Người trong núi hoang mà có thể thuận miệng xướng lên một bài thơ “Vũ Lăng Phiếm Thuyền” của Mạnh Hạo Nhiên, hơn nữa, tình này cảnh này, không những phù hợp với ý của bài thơ, mà còn xảo diệu hơn là khế hợp với thiền ý ở trong thơ! Do đó chúng ta có thể thấy, lão ông này chẳng bình thường chút nào. Điều làm cho ta bất ngờ hơn đó là, ông lại hướng con thuyền nhỏ chèo đến chỗ Sa di Cao, dừng lại trước mặt Sa di, hỏi: “Nạp tử đi đâu vậy?”.

Tăng nhân thân mặt áo bá nạp (áo vá chắp) cho nên gọi là “Tăng nạp, nạp tử” Sa di Cao chào ông lão thần bí rồi nói mình muốn đến Giang Lăng thọ giới. Ông lão nói: ‘nạp tử hà tất phải bôn tẩu ngược xuôi, ở đây có nhục thân Bồ Tát xuất thế, có thể lên núi lễ bái?”

“A, thật sao?” Sa di Cao vội vàng hỏi dồn: “Nhục thân Bồ Tát mà ông nói, ở trên ngọn núi nào?”

Ông lão hỏi ngược lại: “Ngọn núi nào không ở được?”

Sa di Cao bỗng nhiên cảm nhận thiền ý cuồn cuộn táp vào mặt, ông bất giác sửng sờ: Đúng vậy, Bồ Tát ứng cơ mà hiển hiện, không ở đâu, và cũng không đâu mà không ở:

Đợi ông bình tĩnh lại, ở đó chỉ còn hình bóng của ông lão! Ông lão và ngay cả chiếc xuồng con cũng thế, đều như huyễn hóa, mất tiêu không còn tông tích. Thế nhưng, Sa di Cao dường như lại nghe được một chuỗi âm thanh ngâm tụng như có như không:

Một cọng cỏ giữa núi

Lập tức thành thuốc hay

Cứu người và giết người

Đều là thiền trọng yếu…

Bồ tát Văn Thù bảo Thiện Tài Đồng Tử đi hái thuốc, Thiện Tài lại về tay không, nói: “Theo con thấy, đồi núi mênh mông đều là thuốc, Bồ Tát bảo con hái cái gì?” Bồ Tát Văn Thù nói, là thuốc thì ngươi cứ hái về. Thiện Tài Đồng Tử tùy tiện hái một bó cỏ hoang, Bồ Tát Văn Thù đưa cỏ hoang lên nói: “Thuốc này cũng có thể giết người, cũng có thể cứu người.”

Sa di Cao bỗng nhiên hiểu rõ, núi này tên là Dược Sơn, nhục thân Bồ Tát mà ông lão thần bí nói đó chắc chắn ở trên núi này. Thế là, ông rẽ lên núi, đến đạo tràng của Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm, tại phương trượng Sa di Cao theo qui cũ, tham bái đường đầu Đại Hòa Thượng. Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm thoáng nhìn ông một cái ra vẻ rất bình thường hỏi: “Từ đâu đến?”

Sa di Cao nói mình từ Nam Nhạc đến. Đại sư Dược Sơn lại hỏi: “Đi đến đâu?”

Sa di Cao thưa: “Con đến Giang Lăng thọ giới.”

Đại sư Dược Sơn bỗng nhiên nổi sóng gió, hỏi: “Thọ giới để làm gì?”

Sa di Cao trả lời rất hay: “Để khỏi sống chết.”

Đại sư Dược Sơn lại không chấp nhận, nói một cách nghiêm nghị sắc bén hơn: “Có một người không thọ giới, cũng không có sanh tử để tránh. Ngươi có biết được không?”

Sa di Cao không lãnh hội được thiền cơ của Đai sư Dược Sơn, nên hỏi lại theo lẽ thường tình: “Nói như vậy, thì đầu tiên đức Phật Thích Ca Mâu Ni chế định những giới luật này có tác dụng gì?” Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm cười ha hả, chỉ vào đầu ông ta nói: “Sa di này chỉ được nhất thời nhanh miệng, nhưng lại chỉ nhặt nhãnh những lời thừa thãi của người ta mà thôi!”

Câu nói này, giống như một mũi tên bén, bắn trúng căn bệnh của Sa di Cao. Ông thình lình tỉnh ngộ, lễ bái mà lui.

Ông vừa chân trước bước ra, đệ tử lớn của Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm - Đạo Ngô Tông Trí đã chân sau bước vào phương trượng, đứng hầu bên cạnh sư phụ. Dược Sơn hỏi ông ta: “Gặp Sa di cà thọt vừa mới tới đây không?” thấy Đạo Ngô lắc lắc đầu, ngài nói tiếp: “Đáng tiếc, ngươi không gặp được, Sa di này tuy tuổi trẻ, nhưng lại rất có chí khí.”

Đạo Ngô biết sư phụ đang khen ngợi việc ngộ ra chân tánh của Sa di kia. Nhưng ông là một người vô cùng nghiêm khắc, ngay cả sư đệ của mình là Vân Nham Đàm Thành cũng không dễ dàng bỏ qua, vì sao lại có thể tùy tiện chấp nhận một Sa di nhỏ tuổi? Cho nên, ông thưa với Sư Phụ: “Không thể hoàn toàn chấp nhận được, còn phải khảo nghiệm lại mới có thể khẳng định.”

Tối hôm đó, Dược Sơn Duy Nghiễm lên pháp đường, gọi: “Sa di đến sáng sớm hôm nay đâu rồi?”

Sa di Cao nghe gọi, từ trong đại chúng đi ra, đứng ngay ngắn trước mặt Đại sư Dược Sơn. Đại sư Dược Sơn hỏi: “Ta nghe nói trong thành Trường An rất náo nhiệt, ngươi có biết hay không?”

Sa di Cao đương nhiên biết rõ, sư phụ không phải nói đến hoàng thành Trường An mà đang nói đến thế giới nội tâm. Vì thế, ông trả lời: “đất nước ta vẫn như vậy”.

Hay thay cho câu nước ta vẫn như vậy, hình tượng để nói rõ, thế giới nội tâm của ông rất ôn hòa, rất điềm tĩnh, rất an lành.

Đại sư Dược Sơn tiến thêm bước nữa: “Tâm bình lặng này của ngươi là nhờ đọc kinh mà có, hay là do tham vấn cao tăng mà được?”

Sa di Cao kiên quyết phủ định: “ Không phải nhờ đọc kinh mà có, cũng không phải do tham học mà được.”

Dược Sơn dần dần thắt chặt, hỏi dồn: “Nhưng, có lúc nhiều người không đọc kinh, không tham học. Vì sao họ không đạt được tâm bình lặng như ngươi?”

Đại sư Dược Sơn bốp chát ép người, thật ra là đang hướng dẫn một cách cao minh, ngài đem những con đường rẽ bốn phương tám hướng chặt hết, lấp hết, chỉ để lại cho bạn một con đường hướng thượng vượt thẳng lên ngàn dặm - con đường của Thiền ngộ. Ngộ và không ngộ phải xem nơi công lực và cơ duyên của bạn. Dưới sự bức bách kích thích chặt chẽ nghiêm mật của Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, Sa di Cao lập tức khế nhập thiền cơ,trong tự tánh phát ra ánh sáng trí tuệ vô cùng đẹp đẽ: “Không thể nói họ không đạt được, chỉ là không chịu thừa nhận ngay lúc đó!”

Câu trả lời về Thiền yếu trong lúc bức bách này, khiến cho Dược Sơn Duy Nghiễm ngầm liên tiếp gật đầu. Ông quay đầu nhìn hai đệ tử lớn là Đạo Ngô, Vân Nham nói: “Không ngờ chứ gì? Sa di cũng có thể ngộ đạo.” Sau khi Sa di Cao khai ngộ không đi Giang Lăng thọ giới nữa, đặt hành lý xuống, ở lại Dược Sơn. Ông theo bên cạnh sư phụ, ngày đêm tham vấn tu tập, rèn luyện thiền đạo.

Một hôm lúc ngọ trai, không ngờ Đại Tông Sư Dược Sơn Duy Nghiễm là người chỉ đạo trăm ngàn thiền tăng tu tập lại đích thân đánh trống độ trai ( ăn cơm trưa). Thấy tình cảnh đó, tuy rất nhiều người hiểu rõ sư phụ đưa ra thiền ý lớn, nhưng lại không thể đối đáp. Họ đứng ngay ngắn bên ngoài nhà ăn, tiến thối lưỡng nan, không biết như thế nào mới phải. Sa di Cao đi đến, nhìn thấy sư phụ đánh trống, bèn tiện tay đưa bát cơm lên, co một chân nhảy lò cò, ông theo tiếng trống của sư phụ, vừa nhảy vừa đi vào trai đường. Đại sư Dược Sơn hiểu ý cười, rồi ném dùi trống xuống, ngớ ngẩn hỏi: “Là hòa thứ mấy?”

Sa di Cao đáp: “Hòa lần thứ hai.”

Đại sư Dược Sơn lại hỏi: “Thế nào là hòa lần thứ nhất?”

Hòa lần thứ nhất, là cảnh giới tuyệt đối của thiền, há có thể dùng ngôn ngữ trả lời sao!

Thế rồi, Sa di Cao múc một vá cơm trong thùng, đi ra trai đường - đói liền ăn cơm, mệt ngủ liền, chính là thiền yếu tự nhiên nhất.

Một hôm, Sa di Cao đi đến phương trượng cáo biệt sư phụ Dược Sơn. Đại sư Dược Sơn hỏi ông đi đến nơi nào?

Sa di Cao thưa: “Con chân tay chậm chạp, ở đây, lúc kinh hành (đi tản bộ trong lúc ngồi thiền) sẽ trở ngại cho đại chúng, không thể xuống ruộng lao động là liên lụy đến đại chúng. Cho nên, con thà đến bên đường dưới núi dựng một am cỏ, tiếp đãi nước trà cho những thiền khách qua lại, lên xuống trên núi.”

Dược Sơn sợ sự chứng ngộ của Sa di còn chưa hoàn toàn bước lên thật địa, nên khảo nghiệm thêm: “Việc lớn sanh tử, vì sao ngươi không đi thọ giới?”

Sa di Cao trả lời rất khí khái: “Biết được tự tánh này là xong rồi, còn gọi thọ giới gì nữa?”

Giới luật, tác dụng của nó là ngăn ngừa điều sai quấy. Người đã khai ngộ, trí tuệ thông suốt trời đất, mắt pháp nhìn suốt ba đời, tất cả hành vi cử chỉ đều sẽ tuân theo sự thật chắc chắn trong vũ trụ nhân sinh một cách tự nhiên như vậy, không cho cái gốc đi ngược với nhân duyên, lúc đó còn đi thọ giới thì có tác dụng gì?

Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm biết chân của Sa di đã thật sự chạm thật địa, nên dặn dò rất tha thiết: “Ngươi đã rõ đạo lý như vậy, đừng rời ta xa quá, ta cần gặp ngươi thường xuyên.” Sa di rời chùa, dựng một am cỏ trên đường rẽ xuống núi, làm một bếp trà, tùy duyên tiếp đãi người đi đường. Một thời gian sau, ông lên núi thăm sư phụ, giữa đường bỗng nhiên gặp trời mưa to, ông bị ướt như chuột lột. Dược Sơn thấy đồ đệ yêu quí của mình đến, vui vẻ nói: “Ngươi đến rồi.”

Sa di Cao đáp lại một tiếng dạ, rồi chào hỏi hai sư huynh Đạo Ngô và Vân Nham, đứng chung với họ, cùng hầu hạ hai bên sư phụ. Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm đột nhiên cơ phong sắc hỏi Sa di Cao: “bị ướt sao?”

Xem ra Đại sư Dược Sơn đang nói áo quàng của Sa di Cao ướt hết, nhưng thực ra Ngài đang hỏi thăm “cái kia” - tự tánh phải chăng cũng thấm ướt - bị cảnh duyên bên ngoài làm ô nhiễm, thay đổi theo cảnh bên ngoài.

Sa di Cao trả lời rằng: “Không đánh cái trống địch này.”

Thiền sư Vân Nham cũng có cảm hứng về Thiền, liền nói: “Da cũng không, đánh trống gì?”

Đại sư huynh Đạo Ngô làm sao chịu bỏ qua thiền cơ quí hóa này; đem cơ phong như điện chớp xán lạn đánh lại càng đẹp hơn: “Trống cũng không, đánh da gì?”

Đại sư Dược Sơn Duy Nghiễm tâm hoa nở rộ, vô cùng vui mừng, nói: “Hôm nay, có một làn điệu hay quá!”

Phong thái của thiền giả, hứng thú của thầy trò, đa dạng của cơ phong, hoạt bát của tòng lâm, từ đây có thể thấy một dấu chấm mới.

Liên quan đến thiền cơ: Thuyết giới

Phật giáo vốn dĩ không có giới luật, theo sự thành lập, phát triển, bành trướng của Tăng Đoàn mà cá rồng lẫn lộn, phàm thánh ở chung, mà có một số còn chưa ngộ pháp đắc đạo, tập khí chưa sửa đổi được, làm ra những việc trái ngược với thanh tịnh và tu hành thanh tịnh. Thế là, để ngăn ngừa và cấm chỉ những việc ác, đạo Phật đã tùy lúc, tùy nơi, tùy người, tùy việc, dần dần ban bố nhiều điều giới luật.

Đức Phật ở giữa hai cây Sa La ngoài thành Câu Thi La, quay đầu về phía Bắc, mặt hướng về phía Tây, nằm nghiêng bên phải, chuẩn bị nhập Niết Bàn. Lúc đó, thị giả A Nan đại diện cho toàn thể Tăng chúng thưa hỏi: “Lúc Đức Phật còn ở đời, chúng con lấy Phật làm Thầy. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, chúng con lấy ai làm Thầy?”

“Lấy giới làm Thầy.”

Đức Phật dạy, sau đó Ngài ngồi dậy với thanh âm trang trọng Ngài dạy tất cả mọi người: “Này các Tỳ kheo, sau khi ta nhập Niết Bàn, các ngươi phải tôn trọng giới luật như người trong đêm tối gặp đèn, như người nghèo được của báu. Bởi vì, giới luật chính là Thầy của các ngươi, giống như khi ta còn sống vậy. Giới luật là căn bản của sự giải thoát; giới luật, có thể sanh ra các loại thiền định, dẫn đến phát sanh trí tuệ giác ngộ. Này các Tỳ kheo, các ngươi nên giữ gìn giới luật một cách nghiêm khắc, chớ nên trái phạm. Chỉ cần giới luật còn trì giữ thì thiện pháp sẽ tự sanh; nếu như không giữ giới luật tức không thể sanh ra các công đức thiện: Vì thế, các ngươi nên rõ, giới, là công đức bậc nhất!”

Lấy giới làm Thầy, là lời di giáo của đức Phật.

Thế nhưng, trong lịch sử, có rất nhiều người lấy đấy làm lý do, khư khư bảo thủ, nói: “Giới Phật đã chế, không thể sửa đổi; giới Phật chưa chế không thể tăng thêm.” Những kiểu như thế, càng làm xuyên tạc bản hoài chế giới ban đầu của Đức Phật.

Lúc mới thành lập Tăng đoàn, để khuyến khích các Tỳ kheo giữ gìn cuộc sống thanh bần, đam bạc, chuyên tâm tu tập, Đức Phật đã quy định mỗi người chỉ có thể có một bộ y Ca Sa (bao gồm 3 chiếc: Ngũ y - y dùng thường ngày, Thất y - trang phục trong khóa tụng, Cửu y - trang phục đi ra ngoài). Một hôm, đức Phật bảo đại đệ tử ANa Luật đến một địa phương tìm hiểu tình hình tu tập của Tăng nhân ở đó. Thế mà ANa Luật một mực từ chối không chút do dự. Đức Phật biết trong số 10 vị đệ tử lớn của mình, ANa Luật là người trì giới nghiêm cẩn được coi là số một về truyền giới, sở dĩ ông ta từ chối mạng lệnh của mình, chắc chắn là có nguyên do. Đức Phật hỏi ông vì sao vậy? A Na Luật thưa: “Hiện nay là mùa mưa, thời tiết biến đổi thất thường giữa đường thường gặp mưa ướt. Con chỉ có một bộ Ca Sa, mưa ướt rồi không có y phục khô để thay. Mà y áo ướt sũng mặc trên người, không những rất khó chịu mà còn dễ dàng bị cảm lạnh. Ngài muốn con đến nơi xa xôi xem xét, đi về phải mất mấy ngày đường. Con sợ mưa ướt sinh bệnh, cho nên không muốn đi.”

Đức Phật cảm thấy A Na Luật nói rất có lý, liền quyết định: “Từ nay về sau, mỗi Tỳ kheo có thể có hai bộ y Ca Sa, dùng để thay đổi.

Chính vì Đức Phật sửa đổi giới luật một cách linh hoạt, thiện xảo như vậy mà làm cho giới luật càng thêm hợp lý, càng thêm phù hợp với tình hình mới. Vì mục đích của giới luật là để cho việc tu hành tốt hơn, giác ngộ nhanh hơn, không thể biến nó thành giáo điều đã thành lập là không thể sửa đổi.

Vì thế Sa di Cao sau khi khai ngộ, không đi thọ giới nữa - căn bản ông không phạm giới nữa, hà tất phải chạy theo hình thức?

Chính vì bắt nguồn từ tinh thần này, Phật giáo sau khi truyền vào Trung Quốc, các Tổ sư căn cứ trên tình hình Trung Quốc, sửa đổi một số giới luật tương ứng. Đặc biệt là sự thành lập “Bách Trượng Thanh Qui” của Đại sư Bách Trượng Hoài Hải, không những là tiêu chí để Trung Quốc hóa Phật giáo Ấn Độ, mà còn đặt cơ sở vững chắc cho bão táp đột tiến của Thiền Tông sau này.

Có một người thưa với Đức Phật rằng: “Con rất muốn xuất gia, nhưng nghe nói Tỳ kheo phải tuân giữ 250 điều giới luật (giới luật của Tỳ kheo Ni càng nhiều hơn, đến 348 giới), nhớ thì không nhớ được, sợ rằng bản thân không cẩn thận sẽ phạm giới, cho nên…”

Đức Phật bảo: “Nếu như ông thật sự muốn xuất gia, thì điều kiện rất đơn giản, không cần phí công để nhớ 250 điều giới luật kia, mà chỉ cần giữ 3 điều là được rồi.”

Người kia vô cùng vui sướng, vội hỏi ba điều đó là gì? Đức Phật bảo: “Thứ nhất, thân không làm điều xấu, hai là miệng không nói lời xấu, ba là tâm không nghĩ điều ác.”

Người kia nghe rồi cảm thấy chỉ giản đơn vậy sao! Liền vui vẻ xuất gia.

250 điều giới luật, thực ra nói chung chỉ là sự chia nhỏ của ba điều này mà thôi. Chỉ cần thân hành động đoan nghiêm, lời nói tốt đẹp, tâm ý chánh niệm, thì sẽ không trái với các giới luật khác.

Ba điều này còn có thể đơn giản hóa thành một câu nói: Chớ làm các điều ác. Nếu thêm một câu khác nữa thì đó là: Làm các việc lành, bạn chính là một vị đại Bồ Tát rồi.

Chớ làm các điều ác

Gắng làm các việc lành

Giữ tâm ý trong sạch

Đó là lời Phật dạy.

TẮC THỨ 22 : KHÔNG AI BIẾT ÔNG TA

Thiền sư Chí Nguyên Viên Tịnh ở núi Vân Cái Đàm Châu là pháp tôn của Thiền sư Đạo Ngô Tông Trí, người kế thừa pháp của Thiền sư Thạch Sương Khánh Gia. Sau khi ông xuất gia thọ giới, bắt đầu cuộc sống Vân Du.

Thiền môn qua lại chốn núi xanh,

Núi ngàn dặm cao cao chót vót.

Lúc nào cùng đến thiên thai nhỉ,

Thân như mây nổi vui khắp nơi.

(thiền môn lai vãng thúy vi gian,

Vạn lí thiên phong tại diệm sơn.

Hà thời cộng đáo thiên thai lí,

Thân tại phù vân xứ xứ nhàn.) (Đường, Lưu Trường Khanh)

Thiền sư Vân Cái Chí Nguyên thật giống như đám mây nổi trôi tự do tự tại, từ Triết Giang trôi đến Vi Châu, rồi từ Vi Châu nhởn nhơ trôi nổi đến núi Vân Cư ở Giang Tây.

Núi Vân Cư, ở phía nam ngọn núi Khuông Lô, phía đông cái hồ lớn ở Phàn Dương, núi non trùng điệp. Chu vi ngang dọc 300 dặm; núi non muôn vẻ, cao to sừng sững vút tận tầng xanh. Càng thần kỳ hơn đó là sau khi bạn leo lên đỉnh núi, mở ra trước mắt bạn một cánh đồng bằng phẳng bao la bát ngát, mà bốn bề đều có núi bao quanh, thiên nhiên tạo nên một thành quách bằng núi cao. Ở đây, tùng trúc gọi gió, ruộng vườn mục ca, mây trắng vỗ vào mặt, điện vũ nguy nga. Núi Vân Cư trên trời, núi ở trên trời mây; trên núi lại có núi, núi ở trên đỉnh cao. Thảo nào mấy trăm năm sau nữa, đến đời nhà Tống, khi Cư Sĩ Đông Pha đến núi Vân Cư thăm Thiền sư Phật Ấn, kinh ngạc mà rằng:

Bước từng bước đến cửa Triệu Châu,

Trên núi quái lạ lại có núi,

Một vùng mấy núi chọc trời xanh,

Mấy tiếng trống chuông lạc nhân thế.

Thác hoa mây tuyết thấm mắt Tăng,

Hang đá tháng năm ngời nhan Phật,

Muốn tâm sự cùng mây trắng,

Róc rách dưới cầu khe nước xanh.

(Nhất hành hành đáo Triệu Châu quan, quái để sơn đầu cánh hữu sơn. Nhất phiến lâu đài tủng thiên thượng, sổ thanh chung cổ lạc nhân gian.

Bạo hoa phi tuyết tẩm tăng nhãn, nham huyệt lưu quang ánh Phật nhan. Dục dữ bạch vân luận tâm sự, bích khê kiều hạ thủy sàn sàn.)

Đương thời, người trú trì trên núi Vân Cư là Tổ sư Đạo Ưng, một vị cao Tăng của Tông Tào Động. Thiền sư Chí Nguyên đến phương trượng, chưa kịp lễ bái liền vội vàng hỏi: “Chí Nguyên con bôn ba khắp nơi, nhưng tự tánh lại không sáng được. Con nay đã hết cách rồi, xin hỏi, ngay lúc này, con nên làm như thế nào?”

Vân Cư Đạo Ưng nói: “Chỉ vì công lực của ngươi chưa được.”

Thiền sư Chí Nguyên cho rằng câu trả lời của Tổ sư Vân Cư không hợp với ý của mình, quay người ra khỏi phương trượng, nghênh ngang mà đi. Ông trèo đèo lội suối tiếp tục đi thẳng lên phía Tây, đến núi Thạch Sương ở Lưu Dương Hồ Nam, đến thăm Đại sư Thạch Sương Khánh Gia, ông xông thẳng vào phương trượng, cũng như lúc ở núi Vân Cư không lễ bái liền hỏi: “Lúc Chí Nguyên không biết làm sao nữa thì thế nào?”

Thạch Sương Khánh Gia nói: “Không những ngươi đối với nó (tự tánh) không biết làm sao nữa mà lão Tăng ta đây cũng không biết làm sao đối với nó nữa!”

Chí Nguyên kinh ngạc chút nữa thì nhảy cẫng lên, nghi ngờ hỏi: “Thưa Đại Hòa Thượng, Ngài là một vị Đại Tông Sư thiên hạ đều ngưỡng mộ kính trọng, đạt được tâm ấn của chư Phật, tại sao lại không biết làm sao nữa?”

Đại sư Thạch Sương Khánh Gia cười nói: “Điều này có gì lạ đâu? Nếu lão Tăng có thể làm sao, có thể nắm bắt được nó, vậy thì, chẳng phải chính ta có thể trừ bỏ được cái không biết làm thế nào của ông sao?”

Chí Nguyên nghe đạo lý này, bèn cúi thấp cái đầu quật cường của mình xuống, cung kính làm lễ tham bái. Từ đó về sau ông quyết định ở lại núi Thạch Sương theo Đại sư Khánh Gia tham thiền.

Thời gian dần trôi, lá xanh trên núi Thạch Sương dầu sương dãi gió từ xanh trởi thành vàng, giống như những ngọn đuốc cháy sáng rừng rực, khắp vùng núi đồi ánh lên một màu hồng thật hồng. Thiền sư Chí Nguyên đang ngày đêm tham học bên cạnh Sư phu, công phu tu hành tiến bộ nhanh. Việc tham thiền này cũng giống như trong miệng ngậm cuốc sắt, lúc mới bắt đầu, không nếm ra mùi vị (nghi tình không phát ra được), buồn tẻ chứ chẳng hứng thú gì; đến khi vào được cửa, nếm được một ít mùi vị, lại cắn cắn không được, nhai lại nhai không ra, nuốt lại nuốt không xuống, nhả lại nhả không ra… trong đó có mùi vị tiến thoái lưỡng nan, do dự hàng hoàng, lên không được mà xuống cũng không xong, sống chẳng ra sống chết chẳng ra chết, muốn khó khó bao nhiêu có khó bấy nhiêu! Chính Thiền sư Chí Nguyên đang ở trong giai đoạn này.

Tại núi Thạch Sương, từng có một công án như thế này:

Có một vị tăng hỏi Đại sư Thạch Sương Khánh Gia: “Nhà nhà đều đóng thì không hỏi, lúc nhà nhà đều mở làm thế nào?

Nguyên ý của vị Tăng này là muốn nói, thể của tự tánh tạm thời không hỏi, lúc có các loại tác dụng của tự tánh hiển hiện làm sao lãnh hội?” Thạch Sương Khánh Gia lại ngược đường mà đi nên nói: “Dụng của tự tánh thời không hỏi, thể của tự tánh làm sao?”

Vị Tăng mờ mịt không đáp được. Trải qua hơn nửa năm khổ công tham cứu, một hôm, cuối cùng ông cũng ngộ ra câu chuyển ngữ này, nên nói: “Không ai tiếp được nó (tự tánh).”

Thiền sư Thạch Sương vỗ tay bảo: “Ông trả lời rất đúng, không uổng công ông đã hạ thủ công phu. Nhưng ông vẫn còn chỉ mới nói ra được bát thành.”

Vị Tăng này tham thiền đến nỗi tâm linh vô cùng nhạy bén, ông lập tức nắm bắt được thiền cơ từ trong lời nói của Sư Phụ, vội vàng truy hỏi: “Thưa Đại Hòa Thượng, Ngài vẫn nói như thế sao?”

Đại sư Thạch Sương trả lời: “Không ai biết được nó.”

Vị Tăng này rỗng rang đại ngộ!

Thiền sư Chí Nguyên sau khi nghe được công án này, trong tâm cảm nhận được một tiếng kêu gọi vô hình, ông vội vàng tìm kiếm hình bóng Sư phụ khắp nơi. Sau khi ông gặp được Sư Phụ Thạch Sương ở trong sân chẳng kể ha bảy hai mươi mốt gì cả nhảy ùm “một cái”, quỳ xuống đất, đảnh lễ ba vái, khẩn cầu Sư Phụ khai thị lại công án “không ai biết được nó” cho mình. Không ngờ, Thạch Sương lắc đầu, kim khẩu không chịu mở lời nữa. Thiền sư Chí Nguyên bước lên ôm lấy Đại sư Thạch Sương, cứ ôm Sư Phụ đi đến phương trượng, đặt lên pháp tòa trang nghiêm, mà thưa: “Thưa Đại Hòa Thượng, hôm nay nếu ngài không khai thị thiền yếu cho con, con sẽ đánh ngài!”

Đại sư Thạch Sương gật gật đầu nói: “Có thể.”

Thiền sư Chí Nguyên thấy Sư Phụ nhận lời, vô cùng phấn khởi. Ông cho rằng Đại sư Thạch Sương nhất định sẽ chỉ dạy Phật pháp kỳ diệu nhất cho mình, liền lễ bái không thôi.

Không ngờ, Đại sư Thạch Sương vẫn nói như cũ: “Không ai biết được nó.”

Theo bản năng Thiền sư Chí Nguyên giật mình, lập tức tỉnh ngộ ngay trong câu nói đó. Không phải sao, tự tánh không hình không tướng, người nào có thể bắt được nó? Tuy không ai biết được nó, nhưng trong mỗi thời mỗi khắc đều phát sanh tác dụng trên thân thể chúng ta, chúng ta có thể lãnh hội được sự tồn tại của nó một cách rõ ràng!

Có một bài dân ca hát rằng: “Sông Lưu Dương lượn quanh chín khúc, chảy qua chín mươi dặm ra đến sông Tương.”

Sau khi khai ngộ, Thiền sư Chí Nguyên xuôi theo sông Lưu Dương mà đi, lại men theo sông Tương đến núi Vân Cái gần Đàm Châu, trú trì hoằng truyền chánh pháp, người đời tôn xưng là “Vân Cái Chí Nguyên”.

Có Thiền Tăng hỏi: “Thế nào là Phật?”

Thiền sư Chí Nguyên chỉ tượng đúc của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni trong đại điện nói: “Chính là người mặt vàng này.”

Thiền Tăng lại hỏi: “Thế nào là Pháp?”

Thiền sư Chí Nguyên vẫn chỉ tượng Phật nói như cũ: “Chính là cất dấu ở trong này.”

Thiền Tăng hỏi câu thứ ba: “Khi Phật Nhiên Đăng xưa chưa ra đời thì như thế nào?”

Phật Nhiên Đăng xưa là Đức Phật đã thọ ký cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu như ngài chưa từng xuất thế, Phật Thích Ca Mâu Ni làm sao thành Phật? Vì thế, Thiền sư Chí Nguyên trả lời: “Mê muội chưa mở.”

Thiền Tăng lại hỏi: “Thế nào là Tăng?”

Thiền sư Chí Nguyên trả lời thẳng thừng dứt khoát: “Vân du tham thiền, cầu học Phật pháp.”

Đương thời, cuối đời nhà Đường, chính quyền trung ương yếu dần, các địa phương trở thành trạng thái nửa độc lập. Một viên quan địa phương họ Mã thống trị ở Đàm Châu cũng tự xưng vương.

Nước sắp mất, họa hoạn dẩy đầy, ngay cửa Phật cũng chịu nhiều nhiễu nhương - Đạo giáo gần Đàm Châu thịnh hành, các tín đồ thường đến chùa Phật giáo gây rối. Chánh Đạo (đạo sĩ chủ quản phụ trách quản lý của cải tài sản đạo giáo trong bản địa của mỗi châu) Đàm Châu càng điên cuồng ngang ngược tột độ, Thượng Thư Mã Vương muốn công khai bàn luận với Thiền sư Chí Nguyên để định đoạt Phật giáo và Đạo giáo ai ưu ai liệt. Mã Vương mời Thiền sư Chí Nguyên đến Đại Vương Cung gặp gỡ với Đạo Chánh. Uống trà xong, Thiền sư Chí Nguyên đứng dậy chấp tay chào hỏi Mã Vương, thỉnh cầu mã Vương cho mượn thanh bảo kiếm của ông ta. Thanh kiếm báu Long Tuyền của Mã Vương này thuộc binh khí rất cổ, gọt sắt như bùn, thổi lông liền đứt! Mã Vương không biết ý Thiền sư Chí Nguyên muốn làm gì, nhưng vẫn lấy thanh kiếm đeo ở đai lưng ra. Thiền sư Chí Nguyên đứng chính giữa đại điện, dương mày tuốt kiếm ra khỏi bao, soạt một tiếng bảo kiếm sắc lạnh được tuốt ra; đưa cao quá đầu. Quả là binh thần kiếm sắc, mũi kiếm lộ ra hết, sát khí ghê rợn, khiến cho người ta không dám nhìn thẳng.

Vân Cái Chí Nguyên lấy kiếm sắc chỉ Đạo Chánh, hét lên hỏi: “Tổ sư Đạo Giáo của các ngươi nói: ‘mờ mờ mịt mịt, trong đó có vật’ là vật gì? Lại nói: ‘Tối tăm mờ mịt, trong đó có tinh’ là tinh gì? Nói! Ông nói được thì không chém, nói không được thì chém!”

Đối mặt với kiếm bén có thể nhiếp phục hồn phách, còn có sự cơ phong bức người mạnh mẽ kia trong đầu Đạo Chánh mờ mịt.

Thiền sư Chí Nguyên lại hét lần nữa: “Nói, nói mau!”

Kỳ thật, Thiền sư Chí Nguyên hoàn toàn không phải làm khó cho ông ta, mà là đang dẫn dắt ông ta. Có rất nhiều người, chính ở ngay trong tình huống bị bức bách đến con đường cùng này, hoát nhiên ngộ đạo! Nhưng mà, Đạo Chánh chỉ thấy bảo kiếm nguy hiểm sắp đến đầu, không thấy thiền cơ sắp mở, hai chân mềm nhũn, quỳ xuống đất, dập đầu như gà mổ thóc, không ngừng lễ bái sám hối Thiền sư Chí Nguyên.

Thiền sư Chí Nguyên quay qua Mã Vương, nói: “Đại Vương vẫn biết người này chứ?”

Mã Vương nói đương nhiên biết.

Thiền sư Chí Nguyên hỏi: “Ông ta là ai?”

Mã Vương trả lời: “Chánh Đạo.”

Thiền sư Chí Nguyên cười nói: “Ông ta không phải Chánh Đạo. Đạo ông ta nếu chánh thì phải trả lời câu hỏi của sơn tăng. Chẳng qua ông ta chỉ là một cô hồn vất vưởng không biết mặt mũi xưa nay của mình, không hiểu rõ được tự tánh, chưa lãnh hội được đại đạo của nhân sanh vũ trụ mà thôi!”

Liên quan đến thiền cơ: Cơ Phong Lẫm Liệt Như Anh Kiếm.

Thiền sư khai ngộ, chân lý ở trong đầu, giống như bảo kiếm trong tay, sự nhạy bén của nó như luồng dao ánh kiếm, so tài với nó nếu chỉ do dự một chút, liền “táng thân mất mạng” biến thành “cô hồn quỉ hoang”.

Sư huynh của Thiền sư Vân Cái Chí Nguyên - Thiền sư Dũng Tuyền Cảnh Hân, là một người nắm rõ bảo kiếm Thái A. Một hôm, ông không khoác y Ca Sa đi đến trai đường ăn cơm, một vị Thiền Tăng mượn cớ đấu cơ cùng ông, nên nói: “Tăng nhân không mặc Ca Sa, há chẳng phải trở thanh người tục sao?”

Đúng thế, người trọc đầu hoàn toàn không phải đều là Hòa Thượng. Tăng, tượng trưng cho tâm linh thanh tịnh, dù cho không mặc Ca Sa cũng có thể đạt được tâm địa trong sáng thanh tịnh. Thiền sư Cảnh Hân có một người bạn trung thành - một con trâu. Cày ruộng trồng lúa, ông và nó đều lao động cùng nhau. Lúc nhàn rỗi, ông liền cưỡi trên lưng trâu, mặc cho nó chậm rãi mà đi. Một hôm, Thiền sư Dũng Tuyền Cảnh Hân lại cưỡi trâu ra khỏi chùa, nhởn nhơ an nhàn nơi sông núi hoang vắng. Đúng lúc trên con đường nhỏ vắng vẻ giữa núi, có hai vị thiền khách Cường, Đức đi đến. Hai người họ nhìn thấy trâu, cũng nhìn thấy người cưỡi trâu là một lão Hòa Thượng, thế là phấn chấn tinh thần, nói: “Một con trâu đực khá lắm, móng chân rõ ràng, đáng tiếc, người cưỡi lại không biết.”

Từ khi Mã Tổ khai sáng tòng lâm, trâu và thiền liền có quan hệ chặt chẽ không tách rời. Hai vị thiền khách này, bèn lấy trâu làm khế cơ, công nhiên khiêu chiến. Thiền sư Dũng Tuyền Cảnh Hân nhìn mà không thấy, lắng mà chẳng nghe sát cánh đi ngang qua họ.

Hai vị thiền khách này không được vui, nhìn người và trâu đã đi xa cười phóng túng. Có lẽ cười đã khô cổ, hai người bèn đi đến bóng cây bên đường lượm củi nấu trà.

Nước trà chưa sôi, trong núi vắng truyền lại một tiếng trâu hống: Bò ---

Tiếng trâu hống giống như một sợi tơ trong suốt buộc trên cây, lại kéo vị lão Hòa Thượng cùng con trâu ông cưỡi quay trở lại. Thiền sư Cảnh Hân trượt từ trên lưng trâu xuống, chắp tay hỏi: “Hai vị thiền khách gần đây đã rời khỏi nơi nào?”

Hai người Cường, Đức đâu ngờ rằng, trong câu hỏi thông thường này lại ẩn chứa cơ phong lớn lao, Cường Đức tùy tiện chỉ chỉ hướng họ vừa đi đến, nói “bên kia.”

Thiền sư Cảnh Hân hỏi đầy thiện ý: “Cái bên kia như thế nào?”

“Bên này”, “bên kia” tượng trưng cho mê và ngộ. Cảnh giới của hai người làm sao có thể bàn luận, lại làm sao có thể nói cho rõ được? Thiền khách Cường biết đã gặp phải đối thủ mạnh mẽ, bèn bưng chén trà lên - ông muốn lấy đó để biểu thị ý nghĩa, trong cảnh giới của thiền, bên này và bên kia đều như nhau. Cảnh Hân không chấp nhận, nói: “ Nếu đây là cái bên này, vậy thì cái bên kia như thế nào?”

Đây mới gọi là bưng đá nện lên chân mình, ai bảo đầu tiên bạn phân ra bên này và bên kia ngón chân trâu và móng chân trâu? Thiền khách Cường không thể đối đáp, Thiền khách Đức cũng khó mà mở lời, hai người mở miệng dính lưỡi, liếc nhìn lẫn nhau.

“Chớ nói người cưỡi không thấy biết”.

Thiền sư Cảnh Hân cười nói, ông lại nhàn nhã bước lên lưng trâu, tự do tự tại ngâm tiểu khúc rồi đi xa, không nhìn thấy nữa, tựa hồ như lẫn vào trong núi đồi xa xa.

Trên núi Phú Thuyền ở Phúc Châu có một vị Thiền sư Hồng Tiến. Ông cũng là một cây dao bén do Thiền sư Thạch Sương Khánh Gia chuyên tâm tôi luyện ra, sự bén nhạy của ông như ánh chớp, không hề thua kém hai vị sư huynh Vân Cái Chí Nguyên và Dũng Tuyền Cảnh Hân. Có một vị thiền tăng hỏi: “Sư tử là gì?”

Thiền sư Phú Thuyền Hồng Tiến trả lời: “Giỏi gào thét.”

Gọi là sư tử, là nói tăng nhân đã khai ngộ giống như gọi sư tử là vua trong các loài thú, họ giảng kinh thuyết pháp giống như tiếng sư tử hống nơi hoang dã, oai lực vô cùng, muôn thú đều thuần phục.

Thiền Tăng nghe xong câu trả lời của Phú Thuyền Hồng Tiến, vỗ tay khen ngợi: “Cừ khôi! Cừ khôi!”

Thiền sư Phú Thuyền lại không chịu thấy tốt thì nhận, mà lại đem thiền cơ bản đẩy cao lên một bậc nữa: “giữa thanh thiên bạch nhật sao ông lại để cho ma dụ?”

Thiền Tăng là một người thông minh, bước lên một bước, hất thiền sàng của Thiền sư Phú Thuyền. Thiền sư Phú Thuyền cũng không khách khí, đưa Thiền trượng lên đánh xuống, Thiền Tăng bước lui một bước, chỉ Thiền sư Phú Thuyền nói: “Việc lừa chưa đi, việc ngựa đã đến.” Ý của ông là, tôi cố ý bày tư thế thiền sàng ra, chứ không phải rảnh rỗi kiếm chuyện, mà Ngài lại cầm thiền trượng đánh người, cũng là thừa một việc rồi!

Thiền sư Phú Thuyền đưa ngón tay cái lên, dường như khen ngợi: “Nóng bỏng, thật cừ!”

Câu nói “chẳng mang ý tốt” này ngoài mặt thì ông khen ngợi thiền tăng là một người giàu sức sáng tạo, thấu ngộ thiền cơ, nhưng mà, tâm thiền, vì nó không chấp trước thứ gì, mới có thể mãi mãi linh động sáng trong, chiếu khắp trời đất không sót nơi nào. Quả nhiên, vị Tăng kia phẩy áo mà đi. Thiền sư Phú Thuyền tổng kết rằng: “Muốn đem nước đựng trong bình chậu so sánh với đại dương.”

Có vị Tăng vân du từ núi Đạo Ngô đến. Núi Đạo Ngô là Tổ sư của Thiền sư Phú Thuyền - đạo Tràng của Đại sư Tông Trí. Tăng vân du hỏi: “Đã rất lâu con hướng về núi Đạo Ngô, thưa Hòa Thượng Ngài hiểu thiền phải không?”

Thiền sư Phú Thuyền giống như bị oan uổng gì, ngửa mặt lên trời la lớn: “Trời ơi! Trời ơi!”

Tăng vân du bước lên một bước gần hơn, lấy tay che miệng Thiền sư lại, trách rằng: “Nhỏ miệng thôi! Nhỏ miệng thôi!”

Thiền sư Phú Thiền đưa tay tát Tăng vân du một cái, Tăng vân du liền kêu oan: “Trời ơi! Trời ơi!”.

Thiền sư Phú Thiền nắm chặt vị Tăng kia nói: “Tại sao ngươi có thể vô lễ như vậy?”

Vị Tăng kia lại càng vô lễ hơn, đánh lại Thiền sư Phú Thuyền một tát tai. Phú Thuyền nói: : “lỗi của lão tăng!”

Tăng vân du phẩy áo mà đi. Phú Thuyền cười ha hả, nói: “Sớm biết như vậy, không đến tham kiến cũng vậy thôi.”

Lúc Thiền sư Phú Thuyền Hồng Tiến sắp qua đời, thè lưỡi ra bảo mọi người xem. Một vị đệ tử thượng thủ của ngài nói: “Các vị, cuống lưỡi của Hòa thượng cứng rồi.”

Thiền sư Phú Thuyền nói: “Khổ, đúng như ông ta đã nói, hiện tại cuống lưỡi đã cứng rồi.” Nói xong, ngài thảnh thơi ra đi.

TẮC THỨ 23: TRÚC DÀY KHÔNG NGĂN NƯỚC CHẢY QUA

Thiền sư Vĩnh An Thiện Tĩnh, quê ở Kim Thành - Trường An, ngài họ Vương. Phụ thân của ngài là Vương Lãng, văn võ toàn tài từng nhận chức Thứ Sử ở Uy Châu. Vì thế, gia học của ngài có nguồn gốc lâu đời, gốc sâu nhánh vững. Từ nhỏ ngài đã học văn luyện võ, văn của ngài bác thông mọi thể loại, Tứ Thư Ngũ kinh thuộc lòng trong đầu. Thi từ ca phú đều xuất khẩu thành văn; võ của ngài thì đao, thương, kiếm, kích, không thứ gì mà không biết, bày binh bố trận đều rất giỏi. Ngài tuổi còn trẻ mà đã đạt được tiếng tăm hiển hách văn võ toàn tài ở kinh thành Trường An. Tài hoa của ngài đã đến tai Chưởng thư ký (tương đương với quân sư tiết độ sứ) tiết độ sứ đại nhân, ra sức tiến cử ngài vào Cấm vệ quân hoàng gia- nhậm chức Thần sách quân.

Thiếu niên giỏi thư kiếm

Rong ruổi vui dạo chơi