Tìm hiểu bản thân của thực tại, thể nhập thực tại, giác ngộ cái thể tính sáng suốt vĩnh hằng, nhận ra cái Phật tính... một cách trực tiếp ngang qua thiền chỉ và các pháp môn thiền quán trở thành mối quan tâm chính thức, mối quan tâm hàng đầu đối với tự thân của những hành giả tìm cầu sự giải thoát giác ngộ cao nhất trong nhà Phật. Còn những phương thức luận lý, kỹ thuật tìm ra những lỗi trong luận lý, được xem là chuyện bên lề, có khi còn được dán cho một cái nhãn hiệu không mấy thiện cảm là “thế trí biện thông”. Những học trò trong ngôi nhà Phật giáo lại có thêm duyên cớ để xem nhẹ luận lý học.
Thật ra, vì nhận thức (cognition) theo Phật giáo chỉ là nhận thức trực tiếp hay nhận thức gián tiếp về một điểm nào đó trên cái vỏ biểu kiến của thực tại (some point of external reality) chứ không phải là bản thân của thực tại. Quả vậy, lý luận chỉ bàn về cái vỏ của thực tại mà không chạm đến được tự thân của thực tại. Trong nhà Phật thể nhập thực tại là cách diễn đạt khác về trạng thái đạt đạo. Trong khi đó, lý luận không có cách nào thể nhập vào được thực tại để đạt đạo, đắc quả hay giác ngộ. Hơn nữa, lý luận lại còn có thể đưa một hành giả đi vào mê cung của tranh luận, của lý lẽ hơn thua. Hình như đó là những lý do để nền học thuật Phật giáo thường xuyên không xem luận lý học, một chuyên ngành của nhận thức luận, là một môn học cần quan tâm đầu tư. Trong dòng lịch sử luận lý học Phật giáo, sau thời kỳ phát triển rực rỡ vàng son của nó, tức là thời kỳ Pháp Xứng, Nguyệt Xứng, Thế Thân, Trần Na, thì môn Luận lý học rất là mờ nhạt; thời cận đại và hiện nay thì càng mờ nhạt hơn.
Bài viết này được thực hiện như là nhen một dúm lửa để giữ ấm cho một ngành học thuật đáng có một vị trí tương xứng trong nền Phật học, nhất là trong thời đại nghiêng về tư duy biện chứng ngày nay. Xin nhắc, các tôn giáo nặng nề niềm tin khó có thể có nền luận lý sâu sắc và thâm trầm như Phật giáo. Nền luận lý học Phật giáo đã có tự ngàn xưa, và đã từng có thời phát huy đến độ lẫm liệt và huy hoàng, thâm nghiêm và áo viễn. Ở bài đầu tiên trong loạt bài về Luận lý học Phật giáo này người viết sẽ giới thiệu những khó khăn mà những nhà nhận thức luận gặp phải khi chạm trán với khái niệm phủ định, một trong những khái niệm phức tạp nhất trong luận lý học.
Câu hỏi đầu tiên sẽ là: Cái phủ định là gì? Cái phủ định có thuộc về nhận thức (cognition) hay không? Hãy tạm dừng lại ở đây để làm rõ câu hỏi thứ hai một chút. Hãy tìm hiểu cái phủ định qua việc xem xét hai câu phủ định sau đây; Câu 1: “Tôi thấy không có gì cả” - "thấy" là một động từ có túc từ là "không có gì cả". Câu này ngầm cho rằng cái phủ định là một nhận thức (tôi thấy) đối với cái phi thực tại (không có gì cả). Câu 2: “Tôi không có thấy” - động từ "thấy" bị phủ định. Câu này ngầm cho rằng cái phủ định là cái phi nhận thức (non-cognition) hay không có nhận thức (tôi không có thấy).
Những câu hỏi tiếp theo sẽ là: Nếu phủ định là một cái nhận thức trong trường hợp câu 1 thì nó có phải là một nhận thức về một cái thực tại hay không? Nếu phải thì đó là loại nhận thức trực tiếp hay nhận thức gián tiếp? Lý giải nó, thì lý giải theo dạng ý thức (perception) hay dạng suy luận (inference)? Để hiểu câu hỏi sau cùng này, người viết xin diễn giải một chút. Ở đây ý thức (perception) được dùng theo nghĩa là một giai đoạn nhận thức có áp đặt một khái niệm tiên khởi vào đối tượng nhận thức, chứ không phải là ý thức trong triết học Mác chỉ cho tổng thể những hoạt động trí não của con người, ý thức như vậy có vai trò là một đối thể của vật chất. Trong Phật giáo ý thức có nghĩa hẹp hơn, khi mắt thấy sắc ở giai đoạn đầu thì chưa phải là ý thức, và chỉ thấy đó là một đối tượng đơn thuần hay một thực tại, đến giai đoạn thứ hai nhận ra đó là màu đỏ hay màu xanh, to hay nhỏ, thì đó mới bắt đầu gọi là ý thức (perception). (Nói là giai đoạn nhưng thật ra nó nhanh hơn tia chớp và được tính bằng đơn vị sát na thời gian). Nói cho chính xác hơn ý thức (perception) bao gồm hai giai đoạn: một, giác quan tiếp xúc một sự vật; hai, nhận ra cái đó là gì, tên gì. Nhận thức (cognition) chỉ chung cho mối liên hệ giữa chủ thể và đối tượng.
Từng bước chúng ta sẽ trả lời những câu hỏi trên. Thoạt nhìn, cái phủ định dường như là một cái phi nhận thức (non-cognition) vì chủ thể nhận thức không tiếp xúc với một đối tượng nhận thức nào cả. Theo cách nói của luận lý học, phủ định là sự phế trừ hay sự chối bỏ một cái nhận thức (cancellation), thí dụ nói “tôi không thấy gì cả, tôi không nghe gì cả”. Xin được phân biệt rõ rằng ở đây là bàn luận trong phạm vi luận lý học, nguyên lý và luật tắc của luận lý học, không liên can gì đến cái nguyên lý, luật tắc trong cái phạm vi của nhà Thiền, không liên can gì đến dạng lập ngôn: nghe âm thanh thì biết là có nghe, không nghe âm thanh thì biết là còn cái tánh nghe. Nhân đây xin nói vói tay một chút về cái tánh thấy, tánh nghe, tánh ngưởi... rằng lập ngôn như vậy là đã đi sát vào biên giới mỏng manh của thường kiến, chỉ cần bước một bước nữa là đi hẳn vào thế giới của thường kiến. Vì vậy mà nếu một thiền sinh cả gan bước một bước nữa thì có thể sẽ bị ăn gậy của Triệu Châu.
Trở lại mạch chính. Nếu phủ định là một nhận thức thì phủ định phải là cái nhận thức đối với một cái “phi thực tại” (non-reality), tức là cái không có. Tuy nhiên, có cái sự phủ định. Nói theo kiểu luận lý: cái phủ định là có hiện hữu (exists) chứ không phải là không hiện hữu. Và, cái phủ định này dường như là một dạng của nhận thức. Hơn nữa, dạng nhận thức này không phải đối với cái không có gì cả mà là đối với một cái gì đó. Thí dụ nói câu “Tôi không thấy cái bình”, khi nghe nói về cái bình thì người ta có thể hiểu đó là một dạng nhận thức đối với cái bình, chứ đâu phải là không gì cả. Đó không phải là nhận thức đối với một cái “phi thực tại” (non-reality), tức là cái không có. Tất cả những điều vừa trình bày ở trên là cách luận lý của những học phái thuộc Thực tại luận. Cách luận lý này có nhiều điểm liên quan nhưng khác biệt với cách luận lý của Phật giáo về ý niệm (notion) hiện hữu. Theo Phật giáo nói chung cũng như luận lý học Phật giáo nói riêng, bất kỳ tông phái nào, đều nhất quán với chủ trương rằng tất cả cái có đều là không thực có, nói cách khác, không cái gì là thực sự hiện hữu trừ cái thực tại tối hậu.
Những nhà Thực tại luận xem cái phủ định hoặc là một dạng nhận thức đặc biệt (special mode of cognition) hay là một dạng hiện hữu (existence). Phật giáo lại có cái nhìn khác. Đối với Phật giáo thì khi nói hiện hữu là nói đến cái thực tại tối hậu, cái nhất-điểm-hiện-tiền (point-instant). Chỉ có cái nhất-điểm-hiện tiền là hiện hữu. Và, cái nhận thức đối với cái nhất-điểm-hiện-tiền này lại là một cái cảm thức thuần túy tương ứng (the corresponding pure sensation). Cái không hiện hữu chỉ là cái ảnh tượng (imagination) [Câu: “tôi thấy không có cái bình” thì cái bình chỉ là một ảnh tượng], ảnh tượng này không thể nào trực tiếp tạo ra được một cảm giác cho con mắt, hay một cảm thức trực tiếp. Ngược lại, một sự vật xác thực hay xác định (positive thing) hay đang có mặt [đối lập với vật phủ định hay là một vật không có mặt] là một sự vật tạo được cảm thức. Tri thức (the intellect) của con người giải thích một sự vật xác định trong mối quan hệ với sự vắng mặt của một sự vật khác, tức là, sự hiện hữu của cái sự vật khác này bị bác bỏ (denied). Cái phủ định do vậy không bao giờ là một thái độ trực tiếp và tinh khôi của tâm thức (mind) trong khi đó trực tiếp và tinh khôi lại là bản chất của cái cảm thức thuần túy (pure sensation). Cái phủ định luôn luôn là công năng của sự hiểu biết (understanding) của con người. Sự hiểu biết này ngang qua việc nhớ lại những biểu tướng nằm trong ký ức (nó nhớ hồi trước có cái bàn và có cái bình trên đó) nên nó lý giải một cảm thức mà nó được cung cấp (cái cảm thức đó tạo ra bởi con mắt chỉ thấy cái bàn) ở khía cạnh phủ định (chỉ là từ hàm ý phủ định, tức là gợi lên sự vắng mặt của cái bình).
Nếu chúng ta có cái nhận thức theo dạng “Ở đây không có cái bình”, hay “Cái bình vắng mặt”. Cái nhận thức trực tiếp hay cái cảm thức của nhãn quan được phát khởi do một nơi trống không, chớ không phải do cái bình vắng mặt. Cái bình vắng mặt là một biểu tướng được truy xuất từ trong ký ức và được tri thức của con người thiết lập. Cái bình vắng mặt không phải được nhận thức (perceived) bởi các giác quan như mắt, tai, mũi. Rõ ràng, đó là một cái nhìn thông suốt về cái phủ định trong luận lý học trong khi những nhà Thực thể luận cùng thời đã gặp những khó khăn cùng cực khi đối diện hay phản bác. Tuy nhiên những nhà Thực thể luận cực đoan vì tính chất cực đoan đã bị thúc đẩy và bước ra tranh biện. Những vị này đã không thể chấp nhận tính chất thuần lý (the pure ideality) của cái không có mặt. Vì vậy họ tưởng rằng cái không có mặt thật sự có một mối liên quan nào đó với cái khoảng trống không. Tức là, cái bình liên quan với cái khoảng trống trên bàn. Những nhà Phật học do đã thiết lập một biên cương thẳng nét và vững chắc giữa cái thực tại và cái lý tính (lý tính ở đây không phải là cái đối trọng với cái cảm tính mà là cái đối trọng với cái thực tại, nó chỉ cho cái gì thuộc về phạm trù của nhận thức hay phạm trù luận lý mà thôi, nó không có trong phương diện hiện thực), giữa cái cảm thức và cái tưởng tượng (imagination) nên đã không giao động hay do dự giữa cái thực tại và cái phi thực tại (reality and unreality) khi phán định (assuming) về lý tính của cái phủ định. Người Phật tử không hề cảm thấy khó khăn trong việc bác bỏ (repudiating) sự cảm nhận trực tiếp của các giác quan đối với sự vật không có mặt. Nói lại cho dễ hiểu, người Phật tử khẳng khái và dõng dạc nói rằng không thể có chuyện người ta dùng mắt để thấy cái không có mặt.
Tuy vậy, một câu hỏi vẫn được nêu lên. Phải chăng sự phán định có tính phủ định (the negative judgment) trong câu “không có cái bình” được xem là một phán định thuộc ý thức (đã được giải thích ở trên rằng ý thức ở đây có ý nghĩa khác với ý thức hiểu theo triết Mác Lê) giống với với sự phán định trong câu “đây là một cái bình” cũng thuộc ý thức. Nói gọn lại, phải chăng cả hai trường hợp “không có cái bình” và “đây là một cái bình” đều là phán định thuộc ý thức. Hay, phải chăng trường hợp “không có cái bình” phải được xếp vào dạng những phán định thuộc loại suy luận. Để hiểu được điểm này người viết xin nêu lên một trong những điều căn bản của luận lý học là, phán định thuộc loại suy luận diễn ra khi một sự vật không có mặt mà vẫn được nhận thức nhờ dựa trên một chỉ dấu có thể thấy được của nó (its visible mark). Thí dụ người ta không thấy lửa ở xa xa đằng kia nhưng người ta thấy được cái chỉ dấu có thể thấy của nó là khói nên người ta làm một cái phán định thuộc loại suy luận là, đằng kia có lửa. Như vậy, cốt lõi của suy luận là nhận thức một cái gì đó không hiện diện (present) trong phạm vi của giác quan.
Nói là nói vậy cho có ngằn chứ đường ranh phân chia giữa phán định thuộc ý thức và phán định thuộc suy luận không sắc bén lắm đâu, vì mọi cái phán định thuộc ý thức (perception) hay đúng hơn là mỗi ý thức (xin nhắc lại là ý thức theo luận lý học Phật giáo), khác với cảm thức thuần túy, đều chứa đựng trong nó một số lượng lớn những yếu tố thuộc ký ức và một sự điều hợp (a synthesis) do cái hiểu biết của con người thực hiện. Về một phương diện sâu xa hơn thì mọi cái suy luận đều có thể được xem là một vận hành (operation) đơn lẻ của cái hiểu biết, cụ thể như mọi cái khái niệm đơn lẻ (single conception) đều được tạo dựng dựa trên một cảm thức thuần túy (a pure sensation). Mọi suy luận cũng như mọi khái niệm đơn lẻ đều có chứa một phần có thể thấy được và một phần không thể thấy được, một phần phi-thiết-lập và một phần được thiết lập, một phần phi-ảnh-tượng và một phần ảnh tượng (a non-imagined and imagined part). Cái suy luận “có lửa trên đồi, vì tôi thấy khói” có thể được xem là một ảnh tượng được thiết lập có sự điều hợp về một cái lửa-khói dựa trên nền tảng của một cảm thức (sensation). Như vậy là không có sự khác biệt về nguyên lý mà chỉ có sự khác biệt về mức độ. Ý nói là, ảnh tượng hay tưởng tượng (imagination) chiếm ưu thế trong mọi suy luận. Theo cách tương tự, khi xem xét cái phán định phủ định “ở đây không có cái bình, vì tôi không nhận thấy (perceive) cái nào cả”, chúng ta thấy ảnh tượng hay tưởng tượng (imagination) trong đó là cái chiếm ưu thế.
Đến đây chúng ta có thể đưa ra một kết luận sơ khởi là, cái phủ định là cái nên được xếp vào loại nhận thức có tính suy luận, mặc dầu cái phủ định cũng có thể được xem là một khái niệm đơn lẻ, trong đó có một phần thấy được và một phần không thấy được, một phần ảnh tượng và một phần phi ảnh tượng.