Ban biên tập: Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam là đề tài luận văn tốt nghiệp khóa V tại Học viện PGVN tại TP.HCM được đăng tải trên mạng quangduc.com. Bản luận văn cần bổ túc, giảo đính để hoành chỉnh hơn nữa về sự chính xác của sử liệu và ý tưởng, nhưng đây là kết quả của một quá trình tìm hiểu và nhận thức của một sinh viên được đào tạo tại Học viện trước khi tốt nghiệp. Do đó, chúng tôi để nguyên văn, chỉ chỉnh sửa một số lỗi chính tả mà thôi.

DẪN NHẬP:
Bất luận một tôn giáo nào dù cho xuất hiện sớm hay muộn, sản sinh cho đời nhiều học thuyết về nhân sinh vũ trụ, hay đạo lý mà không thể hiện được bản sắc của dân tộc mình, gần gũi thực tiễn khoa học áp dụng được cho mọi tầng lớp trong xã hội thì tôn giáo ấy không thể đứng vững trong lòng dân tộc và không có sức lan tỏa rộng lớn.
Vì lẽ đó Đạo Phật nói chung và Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam nói riêng, ra đời đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của thời duyên, phát huy bản sắc dân tộc, tạo được thế đứng vững chắc trong lòng dân tộc làm nền tảng tinh thần trong cuộc sống qua phương châm: “Đạo Pháp Dân Tộc – Chủ nghĩa Xã hội”.
Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam xuất hiện tại Việt Nam từ thập niên 1940 giữa thế kỷ XX, bắt nguồn từ hai hệ phái lớn Nam Tông và Bắc Tông Phật giáo (PG), được chắt lọc tinh hoa từ hai hệ phái chính truyền của PG và hình thành nên một hệ tư tưởng mang đậm tính dân tộc sâu sắc bởi hình thức tu học, phương pháp hành trì, kiến trúc đạo tràng, thờ phượng… tất cả đều thuần một bản chất của người Việt Nam, thể hiện được tính phổ biến, gần gũi và dễ hiểu, dễ học, dễ hành trì của người dân tộc Việt.
Thế cho nên, mặc dù ra đời sau hai hệ phái lớn nhưng không non kém về hình thức, phương pháp tu tập. Vì sự lợi ích thiết thực ấy đã có sức lan tỏa rộng lớn ra mọi nơi, mọi chốn, làm nền tảng đạo đức trong cuộc sống của người Việt Nam, bổ sung một phần không thể thiếu trong đời sống, để gia đình và xã hội, vật chất và tinh thần được cân bằng, quân bình, rồi từ đó trở thành một đòn bẩy đưa Phật giáo nói chung và Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam nói riêng thành một tôn giáo thực tiễn và rất khoa học, mang dấu ấn, ảnh hưởng sâu đậm tính dân tộc mà chỉ có ở Việt Nam.
Đặc điểm nổi bật nữa là trong thập niên 1940 - 1950, Phật giáo Việt Nam đang trong thời kỳ từng bước chuyển mình, chấn hưng Phật giáo nước nhà, Tổ Sư Minh Đăng Quang - người khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ đã thích nghi vận dụng kết hợp hài hoà được hai truyền thống lâu đời của Phật giáo thế giới và bản xứ mà hình thành một hệ tư tưởng xác lập tính đặc thù của dân tộc với chí nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”.
Với bổn nguyện độ sanh, bắt nguồn bởi lòng từ bi, vị tha, bác ái, thúc giục Ngài không một phút ngừng nghỉ. Ngài hành đạo, mở mang mối đạo, mưa pháp xối chan lợi lạc biết bao nhiêu chúng sanh và bởi lối tu tịnh hạnh giải thoát ấy mà bóng y vàng khắp nơi tỏ rạng chẳng khác chi vừng thái dương ló dạng đã xóa tan đi bóng đêm trùm khắp nhân gian.
Cũng vì thế mà ánh đạo vàng đã lan tỏa, làm chuyển đổi cuộc đời này, đưa con người rời xa sông mê trở về bến giác, nên vắng đi thân ngũ uẩn nhưng bóng pháp thân thanh tịnh vẫn hiện hữu.
Dù trải qua thăng trầm, sự nghiệp hoằng dương Chánh Pháp của Ngài từng thời kỳ càng thêm khởi sắc, càng được nảy nở thêm, các Giáo đoàn Tăng, Ni sau thời gian trụ xứ để tự tu trì, trong giai đoạn đất nước đang chuyển mình đổi mới cũng đã từng bước hội nhập trong lòng đạo pháp, cùng lãnh đạo giáo hội tham gia vào Ban vận động Tăng, Ni Phật giáo Việt Nam và là thành viên Giáo Hội Phật giáo Việt Nam.
Giờ đây, bao thăng trầm đã đi qua nước non cuối cùng đã thu về một mối, tinh thần dân tộc được ổn định, bản sắc văn hóa vẫn còn giữ gìn, phần lớn là sức mạnh đoàn kết của toàn dân, trong đó tôn giáo đóng vai trò chủ đạo nối kết mọi tư tưởng, tinh thần dân tộc bằng tấm lòng xả kỷ lợi tha, hơn thế nữa đã và đang tiếp tục là nòng cốt, tiên phong trong cuộc sống xây dựng và phát triển đất nước.
Ngày nay, trong xã hội kinh tế thị trường, xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì mọi hoạt động, tư duy nghiên cứu, sống và làm việc v.v…tất cả đều mang tính khoa học rất cao, nó phải chứa đựng tầm nhìn lớn lao trong mọi lãnh vực, phải tồn tại lâu dài trên mặt không gian, phải áp dụng được thực tiễn trong cuộc sống, cải tiến được xã hội, đưa xã hội và con người đi dần lên đến đỉnh cao của thế giới chân thiện mỹ.
Bộ Chơn Lý của Tổ Sư Minh Đăng Quang, người Thầy khai sáng Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam đã khẳng định được điều này, trình bày một cách đúng đắn, khoa học, hợp lý về nguồn gốc con người, triết lý con người và thiên nhiên về đời sống đạo đức xây dựng một xã hội an lành hạnh phúc cho khắp nhân gian này.
Nói đến vị Thầy khai sáng Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam thì không thể không nhắc đến bộ Chơn Lý mà Người đã dày công thân chứng nói ra. Thật là một công trình vĩ đại của một bậc chân tu, một vị Bồ-tát nay đủ hạnh nguyện lợi tha.
Nội dung bộ Chơn Lý đã khẳng định được trí huệ, tu chứng của Ngài hết sức thâm hậu, cao niên, mang tầm cỡ của bậc đại trí, đa văn, xây dựng xã hội, xây dựng con người vượt qua đêm tối vô minh, lạc hậu không đi theo huyễn hoặc, siêu hình, tìm hạnh phúc chân thật từ chính cuộc sống này, từ con người này, từ xã hội này, tạo nên mắc xích giữa con người và xã hội, con người với thế giới tự nhiên, con người với con người.
Lý do chọn đề tài
Với sự nghiệp thiêng liêng của Tổ Thầy như vậy là lý do để chúng con chọn đề tài Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam. Vì mục đích trước hết là để kiến giải cho mình những thắc mắc, những thiếu sót của tự thân về tiền đồ của Hệ Phái, là hàng hậu học vẫn còn rất nhiều ưu tư, băn khoăn trăn trở về sự nghiệp của Tổ Thầy, làm sao cho ngọn đèn ấy ngày mỗi sáng lên lan tỏa rộng ra làm lợi ích cho khắp vũ trụ, nhân loài.
Vì Đạo Phật Khất Sĩ đã và đang là một tôn giáo dân tộc, trong lòng dân tộc, cho nên nhận thức được điều này, tự thân đã mạnh dạn cầm bút lên tìm tòi, nghiên cứu, chắt lọc những tinh hoa đặc sắc, biệt truyền của Hệ Phái, hầu nhân đôi sức mạnh của niềm tin Chánh Pháp cho mình và cho hết thảy mọi tín đồ, pháp hữu gần xa về một Hệ phái của dân tộc.
Lý do thứ hai của mục đích chọn đề tài là để đáp ứng nhu cầu học, hiểu, tu tập về phương pháp hành trì truyền thống của Hệ Phái do số đông Phật tử hữu duyên ở vùng xa đã thôi thúc người viết mạnh dạn thỉnh ý kiến của giáo sư hướng dẫn và bắt tay vào sự nghiên cứu tìm tòi học hỏi thêm.
Lý do thứ ba: Vì tự thân xét thấy hạnh nguyện nối truyền Thích Ca Chánh Pháp của Tổ Sư là một hạnh nguyện thiêng liêng tối thượng, một sự nghiệp lớn lao sâu dày của bao thế hệ tiền bối đã và đang nối tiếp truyền thừa. Vì thế ôn lại và làm sáng ngời sự nghiệp ấy chính là đền đáp công ơn của Tổ Thầy trong muôn một.
Có được ngọn đèn Chánh Pháp tỏa sáng đúng nghĩa ngày hôm nay là đã trải qua biết bao thăng trầm gian truân, dày công khai sáng vun đắp. Ý thức được đều này, hàng hậu học luôn luôn tâm nguyện ghi nhớ công ơn và sẽ giữ gìn ngọn đèn ấy sáng mãi trên thế gian .
Phương pháp thực hiện
Đứng trước một di sản quý báu, người viết tự thấy mình phải có một ý thức giữ gìn tôn tạo, vì vậy phương pháp nghiên cứu có khoa học, có độ chính xác là một công việc không thể thiếu trong khi thực hiện đề tài, đồng thời chắt lọc tinh hoa từ nguồn sử liệu, xử lý tài liệu, hình ảnh và đánh giá, nhận xét giá trị tài liệu, sử liệu ấy. Cho nên phạm vi giới hạn đề tài người viết không nói lại những gì bậc đi trước đã nghiên cứu, có thể sử dụng một số sử liệu có nhân chứng, thực chứng.
Ngoài ra, mục đích chính của người viết là giới thiệu giá trị, ý nghĩa sự - lý viên dung mà Sư Tổ đã kết hợp hài hòa, độc đáo, nhuần nhuyễn trong lối kiến trúc thờ Phật, nội dung tu tập và phương pháp hành trì của Hệ Phái vào trong giáo lý Phật Đà, vì thế người viết chỉ nghiên cứu Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam do Sư Tổ sáng lập mà không tìm hiểu rộng những Hệ Phái Khất Sĩ khác và vì đây là một luận văn mục đích tạo thêm niềm tin Chánh Pháp cho mình và cho người.
Phạm vi giới hạn: Người viết không nói lại những gì bậc đi trước đã nghiên cứu, có thể sẽ dùng một số sử liệu, nhân chứng, thực chứng đã có được. Ngoài ra mục đích chính của người viết là giới thiệu giá trị, ý nghĩa sự - lý viên dung mà Sư Tổ đã kết hợp hài hòa độc đáo, quyện chặt, nhuần nhuyễn trong lối kiến trúc thờ phượng, nội dung tu tập và phương pháp hành trì của Hệ phái vào trong giáo lý Phật Đà. Vì thế người viết chỉ nghiên cứu đạo phật Khất Sĩ Việt Nam do Sư Tổ sáng lập.
NỘI DUNG
Chương 1: Vài nét về Tổ Sư Minh Đăng Quang và Hệ phái Khất Sĩ
Thân thế thời niên thiếu
Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang thế danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, ra đời lúc 10 giờ tối ngày Tân Tỵ, 26 tháng 9 năm Quý Hợi (1923), tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình (tỉnh Vĩnh Long ngày nay).
Thân phụ ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Nhàn. Từ bao đời, gia đình song thân vốn có nề nếp ăn ở theo đạo Thánh Hiền, tu nhân tích đức được người đương thời khen ngợi là gia đình hiền lương nhân nghĩa.
Gia đình ông bà cụ có tất cả năm người con, Ngài là út. Trước Ngài có bốn anh chị, cụ bà đều thọ thai sinh nở bình thường, nhưng đến Ngài thì cụ bà mang thai đến 12 tháng mới khai hoa. Mười tháng sau, ngày 25 tháng 7 năm giáp Tý (1924), cụ bà bệnh nặng qua đời, hưởng dương 32 tuổi.
Từ đó về sau Ngài được thân phụ và kế mẫu Hà Thị Song nuôi dưỡng đến ngày trưởng thành. Cụ ông mất ngày mùng 5 tháng Giêng năm Mậu Thân (1968), thọ 75 tuổi. [6, 7 - 17]
Thuở nhỏ, tuy sinh trưởng ở một làng quê nhưng Ngài có trí thông minh khác thường, ngoài giờ học ở trường, ở nhà những lịch sử các danh nhân, những kinh sám, truyện, sự tích được Ngài chú ý xem coi, xem đến đâu thì nhớ hết cùng luận giải phê phán, có phương pháp và rõ rệt, sự phát tâm thương người từ lúc nhỏ nên Ngài cũng ăn chay theo cha, cũng niệm hương cúng Phật mỗi tối. Thế là lòng từ bi thương người vật và lòng kính ngưỡng Đạo Phật từ đó phát hiện rõ rệt.
Cây lành sanh trái ngọt, vốn được hấp thụ nề nếp đạo đức nho phong nên Ngài thường tới lui các nhà trưởng thượng đương thời để tham vấn đạo lý, tìm tòi những điều còn huyền bí trong vũ trụ bao la, suy tư quán chiếu lại nội tâm, nhận biết cuộc đời là huyễn ảo, Ngài có tạo phía sau nhà một cái thất nhỏ để hàng ngày tiện bề tu tập, tham thiền.
Với tinh thần hướng thượng sẵn có, nhiều đêm suy nghĩ, Ngài tự nhủ kiếp phù sinh cứ mãi lăn xoay trong vòng sanh già bệnh chết… Cuối cùng Ngài quyết tâm dõng mãnh cất bước ra đi, cắt đứt tình thân.
“Thôi thì thôi, thế thì thôi
Vẹn nguyền xin chịu lỗi nghì với cha
Thiếu niên ngày nọ lìa nhà
Vượt biên giới Việt, Miên xa dặm ngàn
Lên non tìm động hoa vàng
Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành”.
(Thơ Trụ Vũ, Trích Ánh Minh Quang)
Tầm đạo tu tập và thân chứng
Do chủng tử nhiều đời, căn cơ sâu dày, cộng thêm tư tưởng của một thanh niên có học vấn, nhìn cuộc đời thông thoáng, hướng thượng. Cuộc sống thường tình giả tạm không làm cho Người cảm thấy an ổn, vui vẻ. Mà cuộc sống của bậc xuất trần thượng sĩ đem lại an lạc cho tất cả nhân sinh đó mới là đích thực, là niềm vui vĩnh cửu.
Năm 1938, Người đã đi Nam Vang, tìm đến xứ Cao Miên tầm thầy học đạo và tu theo Phật giáo Nam Tông. Tu thân cực nhẫn với cuộc sống xứ người, làm mọi công việc để nghiệp mòn sinh phước, giúp cho Người có nhiều tiến bộ có nhiều kinh nghiệm nhưng con đường tìm đạo quả giác ngộ giải thoát cho mình đầy chông gai thử thách, để đạt được đạo quả sâu dày không thể chỉ một thời gian tu tập ngắn mà thành tựu được.
Khi quyết tâm đi tìm cho mình con đường xuất thế xa lìa mọi sự hưởng thụ của ngũ dục, lục trần thì cũng là lúc đương đầu với oan khiên của quá khứ, mà người đi tầm đạo tu tập giải thoát là người đi ngược dòng nước và thanh niên Nguyễn Thành Đạt thật phi thường, chấp nhận đi ngược dòng đời đối đầu với nghiệp lực của bản thân.
Nghiệp lực đầu tiên người thanh niên ấy phải trả đó là cô gái vì ân nghĩa cứu tử đã tình nguyện theo nâng khăn sửa túi để đáp nghĩa cho họ Nguyễn này, cô tên Kim Huê là con gái nuôi của Hội Đồng Nhiều người tỉnh Chợ Lớn.
Một mái ấm gia đình hạnh phúc đã hình thành, có thể nói như vườn hoa tươi nở buổi rạng đông đượm thắm sương mai và hãnh diện khoe màu cùng tia nắng sớm. Thế nhưng, cuộc đời có ai muốn mình đau khổ và có ai không muốn mình được hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc trọn vẹn như mình ước mơ thì ít ai đạt được trên thế gian này :
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Người bạn đời sau khi sanh một gái đặt tên là Nguyễn Kim Liên thì đã lìa trần để lại cho Người một nỗi đau trần thế và nỗi đau này chồng chất nỗi đau ngay sau đó, đứa con thơ 1 tuổi cũng vĩnh viễn ra đi. Bài học vô thường biến đổi, hiện rõ quá nhanh giúp Ngài tăng thêm nỗi niềm suy quán hằng ngày. Người thường trầm lắng ưu tư, thường dõi mắt đăm chiêu nơi tận chân trời xa, như khẩn cầu, như bày tỏ tâm tư :
“Mùi thiền đã bén muối dưa
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sòng
Sự đời đã tắt lửa lòng
Còn chen vào đám bụi hồng làm chi
Dở dang nào có hay gì
Đã tu tu trót kiếp thì thì thôi”
(Truyện Kiều)
Một ý chí đanh thép bùng cháy trong Người, lòng Bồ-tát quyết chí ra đi tầm đạo quả chơn lý hạnh phúc của con người. Vào một buổi chiều, Ngài ngộ đạo ngay sau khi thấy những chiếc thuyền đánh cá bấp bênh trên mặt nước, làn sóng biển dồn dập tựu tán Ngài đạt lý vô thường khổ não vô ngã, cảnh khổ trầm luân xoay tròn, như Sa môn Gotama sau 49 ngày ngồi dưới gốc cây Bồ đề thiền định quán chiếu và chứng đạt chân lý Tứ Đế là bài pháp đầu tiên.
Cũng vậy, Ngài cũng nói lên bài pháp đầu tiên đó là Thuyền Bát Nhã làm tiêu chuẩn cho nền đạo pháp của Ngài. Mỗi vị giáo chủ đều có những thuyết do mình ngộ đạo đề xướng và làm căn bản cho sự truyền đạo.
Thành lập Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam
Những lần qua Campuchia, nhiều lần sống ở miền Nam, Tổ Sư Minh Đăng Quang đã có cái nhìn về hai hệ phái Bắc truyền, Nam truyền và các đạo giáo mới, cộng với yếu tố thấu đạt lý đạo, chính đây là yếu tố quan trọng góp phần dẫn đến sự ra đời của Hệ Phái Khất Sĩ. Vì Hệ Phái Khất Sĩ ra đời, hình thành và phát triển đều dựa trên nền tảng bối cảnh lịch sử chính trị, kinh tế, văn hóa, địa lý, xã hội của Nam bộ đương thời.
“Lúc bây giờ về mặt chánh trị, đất nước Việt Nam năm 1945 đã bị thực dân Pháp đặt quyền cai trị, riêng ở Nam kỳ, Pháp đã chiếm giữ sớm nhất. Năm 1862 triều Nguyễn cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, đến 1867 triều Nguyễn tiếp tục cắt ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ cho Pháp. Đặc biệt, đến 1884 khi triều Nguyễn cúi đầu ký hiệp ước Patenote tư cách độc lập của triều Nguyễn mới hoàn toàn bị thủ tiêu”. [148 – 21]
Do cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc và miền Trung, tạm chiếm miền Nam của thực dân Pháp nên Phật giáo miền Nam cũng có sự khác biệt hơn Phật giáo ở hai miền trên, cụ thể là sự ra đời mới mẻ của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam.
Về địa lý, Nam bộ được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu ôn hòa, ít thiên tai, con người miền Nam hài hòa, cởi mở, dễ tánh, ngay thẳng, chất phác, xung quanh có phù sa hai con sông Tiền và sông Hậu bồi đắp vừa có núi vừa có biển (như ở Hà Tiên). Từ điều kiện địa lý như trên đã góp phần tạo nên sự thuận lợi cho việc hình thành Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam.
Về tôn giáo, do Nam bộ nằm ở vị trí ngã tư giao lưu văn hóa giữa hai nền văn minh lớn là văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Quốc nên ở đây tôn giáo rất phong phú, về hệ phái Nam truyền thì có Phật giáo Nam Tông của người Khmer vốn đã có từ lâu. Đến 1938, ra đời Phật giáo Nam truyền của người Việt Nam do Ngài Hộ Tông thành lập, đối với Phật giáo Bắc truyền cũng có du nhập vào vùng đất này từ thời triều Nguyễn. [35 - 10]
Nhìn chung, đây là thời kỳ phát sanh ra nhiều mối đạo mới. Phần lớn mang tính chất của Phật giáo như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Cao Đài, đạo Phật giáo Hòa Hảo, chủ yếu dạy lớp người cư sĩ, về mặt cơ bản ăn chay, tin luật nhân quả. Trong bối cảnh lịch sử tôn giáo như thế, Hệ Phái Khất Sĩ đã có nhân duyên ra đời dựa trên cơ sở chấn hưng Phật giáo bằng con đường nối truyền Thích Ca Chánh Pháp, nâng cao hơn về trình độ tu tập, giải thoát văn hóa.
Sự xuất hiện những yếu tố văn hóa mới trên nền của những yếu tố văn hóa truyền thống, đan xen với những yếu tố văn hóa truyền thống có thể thấy kiểu cư trú và quan hệ cộng đồng của người Việt miền Nam. Người Việt miền Nam cư trú thành làng xã, mọi làng xã của người Việt Nam bộ không có tính chất khép kín, nhà ở thông thoáng mát mẻ, cửa theo nhiều hướng để đón gió thiên nhiên, mô hình bát giác có nhiều cửa lớn, đi vào bên trong chánh điện, cùng xuất phát từ truyền thống văn hóa Phật giáo kết hợp nền văn hóa Nam bộ.
Về y phục truyền thống nhuộm màu nâu vì màu chàm của người dân miền Bắc và miền Trung [317 - 10] và y phục này thuở ban đầu hành đạo, nhà sư Minh Đăng Quang cũng đã khoác lên mình tấm vải nâu sòng để hòa mình cùng với người dân, một bình bát đi khất thực muôn nhà đủ ăn, không chất chứa, không dư dả để như bà con nông dân cuộc sống vừa đủ ăn, đủ mặc, làm ruộng phước để cho chúng sanh gieo hạt giống bố thí cúng dường.
Ngài đi hóa duyên ban rải ánh sáng từ bi, ánh sáng trí tuệ, đem hình bóng đạo đức mô phạm cho nhân gian này. Tính cách người Nam bộ đã sẵn thẳng thắn, bộc trực, trọng nghĩa quên mình, trọng thực tế hơn lý thuyết, trọng đạo lý hơn giàu sang, ghét sự tính toán hơn thiệt [317 - 10] cho nên dễ tiếp nhận giáo lý Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, dễ hiểu gần gũi và phù hợp truyền thống và đạo đức của người Việt Nam.
Và đây là một phần tạo nên sự hình thành Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam. Như vậy, với nền đạo mới ra đời ở Phú Mỹ - tỉnh Mỹ Tho, với mệnh danh “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam” do Tổ Sư Minh Đăng Quang khai sáng, chính thức thành lập Giáo hội vào năm 1946, thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long ở Nam bộ.
Chương 2: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập trong lòng Đạo Pháp dân tộc
Đạo Phật Khất Sĩ VN với tâm nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp” buổi đầu do Tổ Sư Minh Đăng Quang trực tiếp khai lập, dần dần hình thành Tăng đoàn. Tổ thu nhận Tăng, Ni xuất gia, Tổ hướng dẫn đi hành đạo khoảng từ năm 1947 - 1954. Khi giáo đoàn Tăng, giáo đoàn Ni được hình thành, Tổ vắng bóng. Từ đó đến nay, giáo pháp Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam trải qua bốn giai đoạn như sau:
2.1 Từ năm 1944 - 1954 là thời gian vừa tròn 10 năm, 10 năm cho một tiền đồ hệ phái thì đấy là một công trình vĩ đại và đáng trân trọng giữ gìn nếu không là hệ phái nối truyền thì không thể có được sự hình thành và sự lan tỏa rộng trong lòng dân tộc như vậy.
Vì đã có nguồn gốc, có người khai sáng, Sư Tổ là người dày công khơi vẹt mở mang mối đạo cho rộng thêm, cho nên dù gặp nhiều gian nan bước đầu nhưng không có dấu hiệu của sự lu mờ mà sự hành đạo rộng ra khắp các miền từ miền Tây lan dần đến miền Đông và ra tới miền Trung xa xôi.
64 ngôi tinh xá là vật chứng để đánh dấu sự hành đạo của Sư Tổ, trong suốt 10 năm cho đến ngày vắng bóng, hàng đệ tử đã nhân đôi sự phát triển. Đó là nguyên nhân nảy nở các giáo đoàn Tăng, Ni.
2.2 Từ năm 1955 - 1975 là thời kỳ phát triển đã lên đến 100 Tăng Ni nên Giáo hội đã hoạch định đường hướng phát triển cho việc phân giáo đoàn và dựa trên tính thống nhất có một Giáo hội Trung ương như trong Luật Nghi Khất Sĩ có quy định về phân giáo đoàn: “Người xuất gia mới nhập đạo phải theo Thầy ở chung trong giáo hội 2 năm, kế đi tách riêng 1 mình 2 năm nữa, trên 4 năm được thâu 1 người tập sự, trên 6 năm mới thâu nhận 1 người đệ tử và một người tập sự, được trên 12 năm tách ra đi lập đạo riêng, dạy số đông”. [39 - 40,14]
Về tinh thần thống nhất có một Giáo hội Trung ương như trong 114 điều luật ở quyển Luật Nghi Khất Sĩ có ghi: “Cấm không đặng thiếu sót sự hành đạo của Tăng mỗi chỗ phải do giáo hội chứng minh và các giáo hội nhánh mỗi kỳ 3 tháng phải trình bày về trung ương một lần về sự tu học”. [83 - 238,14]
Tăng, Ni hệ phái Khất Sĩ có 2 giáo đoàn: giáo đoàn Tăng và giáo đoàn Ni. Giáo đoàn Tăng gồm có 6, giáo đoàn Ni gồm có 3. Bắt đầu từ năm 1956 TT. Giác Chánh dẫn đoàn hành đạo ra miền Trung… và giáo hội đặt tên cho những giáo đoàn thứ tự như sau:
Giáo đoàn Tăng gồm có 6:
Giáo đoàn 1: Do TT. Giác Chánh và TL. Giác Như lãnh đạo
Giáo đoàn 2: Do TL. Giác Tánh và TL. Giác Tịnh lãnh đạo
Giáo đoàn 3: Do TL. Giác An lãnh đạo
Giáo đoàn 4: Do TT. Giác Nhiên lãnh đạo
Giáo đoàn 5: Do TL. Giác Lý lãnh đạo
Giáo đoàn 6: Do TT. Giác Huệ và TT. Giác Đức lãnh đạo.
Giáo đoàn Ni gồm có 3:
Giáo đoàn của Ni Trưởng Huỳnh Liên
Giáo đoàn của Ni Trưởng Ngân Liên
Giáo đoàn của Ni Trưởng Trí Liên.
Tuy là chia ra 9 giáo đoàn nhưng đều có sự hợp nhất về pháp lý, lấy tịnh xá (TX) Trung Tâm làm tổ đình bên Tăng và TX. Ngọc Phương là tổ đình bên Ni.
2.3 Từ năm 1976 - 1980 là giai đoạn hội nhập trong lòng đạo pháp và dân tộc khi nước nhà đã thống nhất hòa bình, độc lập hoàn toàn, ĐPKSVN đã nhiệt tình đóng góp vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đóng góp vào nền hòa bình và trong Giáo hội PGVN.
Trong số đệ tử của Tổ Sư bên Tăng có cố HT. Giác Nhu và TT. Giác Toàn là những bậc có công trong việc đưa GHKS hội nhập vào trong lòng dân tộc, bên Ni có cố NT. Huỳnh Liên và NT. Ngoạt Liên.
Phái đoàn PGVN đi dự đại hội tôn giáo thế giới vì hoà bình về vấn đề giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Matxcova (từ ngày 6 - 10 tháng 6 năm 1977) trong không khí thân mật tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa các nước anh em, NT. Huỳnh Liên đã cảm tác một bài thơ:
“Bỗng dưng mình lại hóa thành tiên
Lướt gió tung mây gặp bạn hiền
Dự tiệc bàn đào tiên nữ đãi
Hòa bình đạo ấm nghĩa đào tiên”
(NT. Huỳnh Liên – Sen nở đầy hồ )
Và hệ phái còn tham gia trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM, trong Ủy ban bảo vệ Hòa bình Thế giới TP.HCM.
2.4 Từ năm 1980 đến 2004 là thời kỳ trụ xứ, bên cạnh đó cũng tham gia Ban vận động Thống nhất PGVN, đến 1981 tham gia Đại hội Thống nhất PGVN cả nước tổ chức tại chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội và là thành viên trong GHPGVN.
Do tình hình thống nhất đất nước cho nên đạo Phật cũng phải thống nhất, vào năm 1981 đại hội PG thống nhất tất cả 9 hệ phái trong đó có Hệ Phái Khất Sĩ là một thành viên của giáo hội PGVN. [27 - 20]
Về trụ xứ: Theo truyền thống của GHTGKSVN hành đạo theo đoàn du Tăng, số còn lại ở tịnh xá nhưng phải đổi chỗ trong thời gian 3 tháng, hoặc 6 tháng có sự hành đạo chủ yếu đi khất thực.
Trong tình hình chung của xã hội đang lúc giao thời, theo hệ thống quản lý hành chánh của chính quyền hiện giờ người tu phải có hộ khẩu thường trú ở TX hoặc giấy tờ tạm vắng, do đó việc giấy tờ thủ tục hành chánh cần phải có, khi có nhu cầu tạm vắng tạm trú. Đây là một điểm mới so với trước kia, thế nên Tăng, Ni giờ đây đã có đăng ký hộ khẩu, khởi điểm bắt đầu cho thời kỳ có đời sống tu học trú xứ. (sđd tr 27)
Chương 3: Nội dung tu tập, phương pháp hành trì
3.1 Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp ĐPKSVN: giữ gìn Y, Bát chơn truyền.
Đời sống của một Tỳ kheo chơn chánh thì tài sản chỉ có 3 Y và bình Bát. Đức Thế Tôn là hình ảnh gương mẫu cho tinh thần này, trở thành người vô sản ngay từ khi quyết định ra đi tìm con đường giải thoát cho nhân loại. Một mình một bóng, Ngài dấn thân vào kiếp sống tu hành khổ hạnh giữa chốn rừng già.
Ngài biết rằng cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, uy quyền thế lực là chất men nồng cao độ nó sẽ làm đê mê say cuồng và có thể giết chết một ông hoàng giữa vòng tục lụy, cũng như bao nhiêu khách trần khác, ròng rã hơn mười năm con người ấy đã thật sự thoát ly những khổ đau trói buộc của phàm tình, đầu tiên trên bước lữ hành ôm bát hóa duyên theo hạnh xưa của ba đời chư Phật.
Ngày trở về thành để thăm Hoàng tộc, Ngài đã dùng hình ảnh này để hóa độ hoàng thân quốc thích. Thử hỏi còn hình ảnh nào cao đẹp hơn và hạnh phúc hơn Người đã cắt ái ly gia, chỉ xem vật chất là thứ yếu, nêu cao tinh thần thiểu dục tri túc để hòa nhập san sẻ cùng với tất cả chúng sanh để hóa độ chúng sanh không còn khổ đau trói buộc trong cuộc đời giả tạm vô thường.
Một cuộc đời nhẹ nhàng giải thoát không tham cầu ước muốn thì như cánh chim trời lộng gió bay khắp muôn phương đem tình thương cho khắp mọi loài. Một hình bóng chỉ có duy nhất ở đạo Phật mà không có ở đạo giáo khác.
Ba Y gồm Y Thượng, Y Hạ, Y Trung. Bát phải được làm bằng đất nung đỏ, vuốt tròn, đốt đen có lăn sáp bên ngoài để không còn có giá trị sang trọng, 1 cái nắp đậy bát bằng nhôm trắng nhẹ, 1 cái túi vải tròn vừa với bát có nắp phủ có quai mang choàng vào vai. Y tượng trưng cho bầu trời, Bát tượng trưng cho vũ trụ càn khôn, Bát là ruột Y là da, luôn luôn gìn giữ trân quý.
Tấm Y đã được giáo pháp của Phật ba đời truyền trao khi thực sự đứng vào hàng trưởng tử của Đức Như Lai thì Y Bát là một pháp khí thiêng liêng đánh dấu sự trưởng thành đầy đủ giới đức trang nghiêm xứng đáng đứng vào hàng ngũ của tăng đoàn. Vì vậy Y Bát đã được Tổ Sư truyền thừa sau Đức Phật nhập diệt, không có Y Bát hành giả như chim mất cánh, như cây lìa cành, vì Y Bát là đôi cánh cho hành giả hướng đến một phương trời cao rộng, vượt thoát ấm ma, làm bậc xuất trần thượng sĩ, làm lợi lạc quần sanh, tạo Niết Bàn tịnh lạc ngay cõi trần gian này. Người Khất Sĩ đã tiếp nối truyền thống Thích Ca, xây dựng Chánh Pháp tại thế gian này qua hình ảnh tiêu biểu:
“Y vàng nhẹ bước vân du
Bát nung nặng mối tình thu muôn ngàn”
Đấy là hình bóng của Tổ Sư Minh Đăng Quang đầu tiên hành đạo ở làng Phú Mỹ ngày xưa, Ngài đã nối truyền Thích Ca Chánh Pháp lập nên ĐPKSVN với Y Bát chơn truyền đi khắp đó đây để:
“Trên xin giáo pháp Phật Đà
Dưới xin cơm áo để mà nuôi thân”
Ngài đã nối hạnh Phật xưa ôm Bát hóa duyên, hóa độ chúng sanh lập nên hệ phái biệt truyền với ý nghĩa nhiệm mầu của đoàn du tăng Việt Nam, với chí nguyện thiêng liêng cao cả ĐPKSVN đã làm rạng ngời giáo pháp Tổ Thầy.
“Một bát cơm ngàn nhà
Thân đi muôn dặm xa
Mắt xanh xem trần thế
Mây trắng hỏi đường qua”
Y Bát đã làm lợi lạc cho muôn loài, cho tất cả, cho nhân loại, đem tinh thần xả kỷ lợi tha, giáo hóa chúng sanh cang cường dị độ, lấy hạnh từ bi bình đẳng để đến với muôn người, không phân biệt nghèo giàu.
Tấm y có năng lực Bố ma Phá ác ngăn ngừa mọi lỗi lầm có thể xảy ra, “bởi khất cái với Khất Sĩ cũng tương tự in nhau, vì kẻ gian manh muốn sắm áo bát bao nhiêu cũng được người Khất Sĩ phải là có thật học, phải đủ đức hạnh, phải có chơn tu mới được gọi đúng danh từ Khất Sĩ” (tr 303 – Y Bát chơn truyền) và tạo nên miếng ruộng Phước điền cho người gieo hạt giống bồ đề, chiếc bát có công dụng diệt trừ tham sân si, tăng trưởng tinh thần thiểu dục tri túc của người xuất gia.
Cụ túc hạnh Tứ y pháp:
Tứ y pháp là bốn điều khuyên dạy của Đức Thế Tôn cho hàng Tỳ kheo khi đã thọ Cụ túc giới phải hành trì suốt đời với mục đích làm thanh tịnh hàng ngũ Tăng chúng, xa lánh hai cực đoan, giải thoát mọi sự ràng buộc của vật chất đời thường sống hạnh thiểu dục tri túc, bỏ đời sống cao sang để thực hành nếp sống thanh bần đạm bạc của một nhà sư phạm hạnh, nâng cao đời sống tinh thần làm mô phạm cho nhơn thiên và loài người trên thế gian này.
Tổng quan
• 25/04/2013, 00:51
Tịnh xá là nơi vắng vẻ, trong sạch, yên lặng, trú xứ dành cho chư Tăng tu hành, tham thiền, nhập định. Danh hiệu các ngôi tịnh xá thường có hai chữ, thường có chữ Ngọc đứng đầu để ẩn dụ rằng các ngôi đạo tràng tịnh xá là nơi hoằng hóa đạo đức, lợi lạc quần sanh, có giá trị như là những viên ngọc quý trong thế gian.
Tổng quan
• 25/04/2013, 00:51
Sau ngày 30-4-1975, đất nước hòa bình, chư Tăng Ni Khất Sĩ dừng chân du hóa, tu hành theo lời giáo huấn của Tổ sư: "Nên tập sống chung tu học. Cái sống là phải sống chung, cái biết là phải học chung và cái linh là phải tu chung".
Tổng quan
• 25/04/2013, 00:51
Phật giáo Khất Sĩ là một Hệ phái Phật giáo chỉ có tại Việt Nam và chưa có ảnh hưởng nhiều trong cộng đồng Phật giáo quốc tế, nhưng thật bất ngờ, đã thu hút được sự quan tâm và là đề tài nghiên cứu tham dự một hội thảo quốc tế.
25/04/2013, 00:51
Tịnh xá là nơi vắng vẻ, trong sạch, yên lặng, trú xứ dành cho chư Tăng tu hành, tham thiền, nhập định. Danh hiệu các ngôi tịnh xá thường có hai chữ, thường có chữ Ngọc đứng đầu để ẩn dụ rằng các ngôi đạo tràng tịnh xá là nơi hoằng hóa đạo đức, lợi lạc quần sanh, có giá trị như là những viên ngọc quý trong thế gian.
25/04/2013, 00:51
Sau ngày 30-4-1975, đất nước hòa bình, chư Tăng Ni Khất Sĩ dừng chân du hóa, tu hành theo lời giáo huấn của Tổ sư: "Nên tập sống chung tu học. Cái sống là phải sống chung, cái biết là phải học chung và cái linh là phải tu chung".
25/04/2013, 00:51
Với bổn nguyện độ sanh, bắt nguồn bởi lòng từ bi, vị tha, bác ái, thúc giục Ngài không một phút ngừng nghỉ. Ngài hành đạo, mở mang mối đạo, mưa pháp xối chan lợi lạc biết bao nhiêu chúng sanh và bởi lối tu tịnh hạnh giải thoát ấy mà bóng y vàng khắp nơi tỏ rạng....