Những giá trị nền tảng của Triết học Phật giáo

Ban TT-TT Hệ phái 10/07/2017, 07:17

SuChinh 1

1. Đặt vấn đề

Phật giáo hay lý thuyết của Phật-đà (P. śāsana), là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới[1]. Phật giáo được Thích Ca Mâu Ni[2] (Sakyamuni) khai sáng và truyền giảng ở miền Bắc Ấn Độ vào thế kỷ 6 TCN[3]. Ngay từ buổi đầu, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau. Và do đó, ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên thế giới, ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ[4] và Tây Âu[5].

Thời đại ngày nay, thời kỳ của Toàn cầu hóa, các lý thuyết về triết học Phật giáo đã có những bước chuyển mạnh mẽ, vừa mang lại sức sống mới cho Phật giáo, vừa để Phật giáo giúp ích hơn cho xã hội tại các quốc gia và vùng lãnh thổ nơi mà Phật giáo có mặt, thể hiện tính nổi bậc, toàn cầu của Phật giáo. Thời đại Toàn cầu hóa đ ược định nghĩa một cách khách quan là sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa các quốc gia và các cá nhân. Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, tôn giáo v.v... trên quy mô toàn cầu.

Từ đó, Triết học Phật giáo đã trình bày cách thức nhìn nhận và giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội thành hệ thống quan điểm thống nhất; trong toàn bộ mọi hiện tượng tâm lý và vật lý không có một chủ thể gì được gọi là độc lập, thường còn, mà là sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa chúng, đó là thế giới quan nòng cốt trong Phật giáo, đó chính là Nhân duyênvà Tam pháp ấn.

Như vậy, khi đề xuất, nghiên cứu, nhìn nhận, nhận thức về các chủ điểm cốt lõi trong Học thuyết triết học Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu và nhiệm vụ của Toàn cầu hóa nêu ra, lại càng nhận thấy các chủ điểm đó mang một nội hàm tinh túy nhưng hết sức giản đơn liên hệ trực tiếp đến cáchiện tượng tự nhiênvà đời sống xã hội, đượcmiêu tả,nhận thức, lý giải hòa với một thái độsống độngqua những lời dạy minh triết củaĐức Phật.

SuChinh 2

2. Các lý thuyết vềTriết họcPhật giáo

2.1. Khái niệm về Triết học và xã hội Phật giáo

Chủ điểm của Triết học và xã hội Phật giáo[6] là một hệ tư tưởng Phật học được hình thành dựa trên ý thức học và ý thức hệ Phật giáo, được phát triển bằng những nguyên tắc của Phật giáo, nhằm mục đích giúp xã hội vượt qua những chỗ hạn chế hoặc xóa bỏ sự phân biệt giai cấp, phát triển đạo đức, đưa con người và xã hội đến chỗ công bằng, dân chủ và tự do.

2.2. Lập trường chủ đạo của Triết học xã hội Phật giáo

Lập trường chủ đạo của Triết học Phật giáo được xác định là đã có một truyền thống lâu dài gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp giáo hóa của đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni (Siddhārtha Gautama ).

Ở Việt Nam, nền tảng của học thuyết về Chủ nghĩa xã hội Phật giáo cũng đã xuất hiện rất sớm gắn liền với các Trung tâm văn hóa Phật giáo mà điển hình là Trung tâm Luy Lâu[7] (229-280), nhưng ghi nhận sớm nhất của học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo Việt Nam là vào nhà Đinh (968-980), thời kỳ đầu kỷ nguyên độc lập của đất nước gắn liền với tên tuổi của Quốc sư Khuông Việt (933-1011) và đến cả nhà Tiền Lê (980-1009). Đáng kể nhất là thời đại Lý-Trần (1009-1400), không những chỉ có học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo được ứng dụng sâu và rộng trong xã hội, mà Chủ nghĩa xã hội Phật giáo còn phát triển lên thành một bộ môn Triết học Chính trị-xã hội Phật giáo Việt Nam và Đạo đức học Phật giáo, điển hình là Trúc Lâm đầu đà Giác Hoàng - Trần Nhân Tông. Như vậy, ít ra muộn nhất là vào thế kỷ IX - X đã hình thành Chủ nghĩa xã hội Phật giáo Việt Nam toàn diện.

Từ đó, xã hội Phật giáo phát triển thành một loạt bộ môn khoa học về Chủ nghĩa xã hội Phật giáo, như: Triết học Chính trị-Xã hội Phật giáo, Đạo đức học Phật giáo, Nhận thức luận Phật giáo, Xã hội học Phật giáo, Giáo dục học Phật giáo, Y học Phật giáo, Hành chính học Phật giáo, Văn học Phật giáo, Nghệ thuật Phật giáo, Hình thái học Phật giáo, Tâm lý học Phật giáo, thậm chí là Nghi lễ học Phật giáo... đã điều phối các hoạt động của xã hội.

Với nền tảng của bề dày lịch sử hình thành, phát triển và đóng góp của xã hội Phật giáo được bắt nguồn từ đức Phật lịch sử, nên đã kế thừa truyền thống nền dân chủ-nhân bản của đức Phật, luôn ủng hộ quyền tự do, tự do xã hội, bình đẳng, cơ hội đồng đều, kể cả quyền tự do dân sự để phát triển một xã hội không có giai cấp, và xóa bỏ những bất công xã hội. Đặc biệt, xã hội Phật giáo luôn chú trọng sự phát triển cân đối giữa thể chất và đạo đức.

Nền tảng căn bản và chủ đạo của triết học Phật giáo là yếu tố con người. Luôn vận động, tập hợp quần chúng nhân dân đoàn kết với một chính sách thích hợp sao cho quy tụ được lòng dân, và đó là tiềm lực sức mạnh của dân tộc, tiềm lực sức mạnh của đất nước. Con người là trung tâm của sự phát triển.Người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của phát triển. Nhằm nâng cao vị thế của người dânvà chú trọng đến việc tạo lập sự bình đẳng cho mọi người dân về mọi mặt: tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch, tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho người dân phát triển về: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa...

Quan điểm của xã hội Phật giáo là phục hồi, xây dựng và phát triển xã hội theo con đường trung dung[8], không tranh chấp trong cuộc tranh luận giữa lập trường “Nó lúc nào cũng là” của thuyết trường tồn, và “Nó đang là và sẽ không là” của lập trường đoạn diệt. Bởi vì, cả hai lập trường đó đều xa lìa việc xác định xây dựng và phát triển xã hội.

2.3. Vấn đề cơ bản của Học thuyết Triết học Phật giáo

Vấn đề cơ bản của Học thuyết Triết học Phật giáo là xác định về mối quan hệ của bản thể nó là cái gì? Để giải quyết vấn đề về bản thể nhìn nhận: Vật chất và Ý thức là gì? Đặt vấn đề về nhận thức. Giải đáp câu hỏi về quá trình nhận thức diễn ra như thế nào? Con người có thể nhận thức chính xác thế giới khách quan hay không? Học thuyết xã hội Phật giáo xác định được vấn đề con người chúng ta nhận thức thực tại như thế nào và có nhận thức được toàn bộ thực tại hay là không? Từ đó, sẽ giải đáp câu hỏi thực tại là gì? Học thuyết này xác định vấn đề về chân lý, như thế nào là chân lý? Cách tiếp cận chúng ra làm sao? Làm thế nào để nhận biết được một cách chính xác một phát biểu là đúng hay sai? Con người có thể trả lời những loại câu hỏi nào? Giải quyết vấn đề: Chân lý là gì? Học thuyết Triết học Phật giáo đặt vấn đề về lĩnh vực đạo đức. Hạnh phúc là gì? Thế nào là thiện, thế nào là ác? Thế nào là giá trị và chúng được đánh giá như thế nào? Tiến đến xác định và lý giải vấn đề thẩm mỹ: Như thế nào là đẹp, như thế nào là phi đẹp? Thế nào là giá trị và Chúng được nhìn nhận và đánh giá chúng ra làm sao? Làm thế nào để đánh giá được giá trị của thẩm mỹ?

Xã hội Phật giáo không đề cập đến những phỏng đoán cũng như những hiện tượng siêu hình vô bổ, vì nó không những dẫn đến sự xa rời xã hội và không tích hợp được sự đồng thuận trong xã hội mà nó còn lấy chủ thể xã hội ra làm vật thí nghiệm, điều này vô cùng nguy hiểm, và vì vậy nó vô bổ.

Ai khai sáng ra Học thuyết Triết học và xã hội Phật giáo? Bằng quan điểm: Tam pháp ấn[9], và quan điểm: Ta chỉ dạy một điều duy nhất: Khổ, và cách diệt khổ”[10] thì đức Phật lịch sử Thích ca Mâu Ni là người khai sáng ra Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo. Học thuyết Triết học và xã hội Phật giáo nhìn nhận Long Thụ[11] (Nāgārjuna) là người đã phát triển Chủ nghĩa xã hội Phật giáo nguyên gốc lên một bậc thành Chủ nghĩa xã hội Phật giáo toàn diện bằng quan điểm “Tám phủ định[12], “Tứ cú phân biệt[13] và “Hai chân lý: S. satyadvaya - Nhị đế [14].

“Tám phủ định là gì?”. Tám phủ định[15] là: Không diệt, không sinh, không đoạn, không thường, không là một, không đa dạng, không vào (hiện hữu), không ra (cõi đoạn diệt). Và “Tứ cú phân biệt là gì?”. Tứ cú phân biệt là: Người ta không nên nói “trống không”, “không trống không”, cả hai, không cả hai. Bằng quan điểm “Tám phủ định” và “Tứ cú phân biệt” là tiền đề thứ nhất để giải quyết các vấn đề về bản thể, nhận thức và đạo đức.

Quan điểm thứ hai: “Hai chân lý” là tiền đề thứ hai để giải quyết các vấn đề về chân lý, thẩm mỹ.

Vậy, “Hai chân lý là gì?”. Hai chân lý là: Chân lý quy ước và chân lý trên bình diện tối cao. Người nào không nhận thức được sự khác biệt của hai chân lý này cũng không nhận được chân lý.

Đó chính là kỹ thuật biện chứng của Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo. Đây là một mẫu hình tư duy luận lý được xác lập bởi bốn thành phần, “tứ cú”, tương đương với bốn cách tuyển chọn luận lý khác nhau.

i. Nó như thế này;

ii. Nó không như thế này;

iii. Nó vừa là thế này vừa không là thế này;

iv. Nó chẳng như thế này, cũng không không như thế này.

Tứ cú phân biệt là một mô hình lý thuyết của luật vô mâu thuẫnluật bài trung (luật cách tuyệt cái thứ ba) để lý giải một cái gì được gọi là chân lý và chỉ ra những nhược điểm trong những dạng luận cứ hoặc những mối tư duy nhất định cản trở tri thức. Vì vậy, mô hình lý thuyết này chỉ cho chúng ta tri thức. Nhưng chúng phải được kiểm nghiệm là thiện và qua đó, người ta có thể nhận thấy rằng mức độ chân thực của chúng cũng phụ thuộc vào mức độ của tính thực dụng và hữu ích của chúng.

Vì vậy, triết học Phật giáo xác định sự hiểu biết trọn vẹn được thực hiện trên tầng cấp của “trí huệ vô ngôn”. Như vậy thì việc áp dụng Tứ cú phân biệt bao hàm ba khía cạnh:

i. Khía cạnh giải phá (E. deconstructive), có nghĩa là vạch ra những đường cùng của tư duy hạn chế, bất thiện, và đồng thời;

ii. Khía cạnh kiến lập (E. constructive), là chuyển hoá vô minh (avidyā) thành trí Bát-nhã vô ngôn (prajñā), như vậy là dẫn dắt ra khỏi tư duy hạn chế;

iii. Khía cạnh kinh nghiệm (E. experience), là kiểm chứng tri thức.

Nếu không nương vào sự áp dụng [ngôn từ] thì hiện thực tối cao không được trình bày; và không đến chỗ hiện thực tối cao thì không thể trực chứng, đó là mô hình của sự phân chia mức độ hiện thực toàn diện được Học thuyết chủ nghĩa xã hội Phật giáo xây dựng và phát triển xã hội cân bằng giữa thể chất và đạo đức.

2.4. Thế giới quan của Học thuyết Triết học Phật giáo

Thế giới quan của Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo trình bày cách thức nhìn nhận và giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội thành hệ thống quan điểm thống nhất; trong toàn bộ mọi hiện tượng tâm lý và vật lý không có một chủ thể gì được gọi là độc lập, thường còn, “…Nếu cái này tồn tại thì cái kia hình thành. Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh. Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành. Cái này diệt thì cái kia diệt”[16], đó là thế giới quan nòng cốt trong Học thuyết triết học Phật giáo.

Nguồn gốc hình thành Vũ trụ được triết học Phật giáo lý giải và trình bày bằng một định luật căn bản: “Chẳng nơi nào người ta có thể tìm thấy sự hiện hữu phát sinh từ chính nó, từ cái khác, từ cả hai hoặc phát sinh không có nguyên nhân”[17].

Mọi sự vật hiện tượng đều là vô thường, không thể tồn tại vĩnh hằng, có sinh thì phải có diệt, Duyên khởi[18] thì sinh - Duyên tận thì diệt. Ngay cả không gian, thời gian và vũ trụ cũng vậy, cũng có khởi đầu, biến đổi và cuối cùng là kết thúc, vấn đề ở chỗ là yếu tố thời gian. Theo thời gian sẽ có thời điểm Vũ trụ đạt đến yếu tố cực đại và bắt đầu co sụp lại. Nó sẽ bắt đầu nóng hơn và đậm đặc hơn, và kết thúc ở trạng thái tương tự như thời điểm bắt đầu.

Mọi sự vật hiện tượng không trường tồn, bởi vì chính chúng nó xuất hiện trên cơ sở hệ thuộc, có cơ sở hệ thuộc. Nhưng chúng cũng không bị huỷ diệt, bởi vì chúng hoàn toàn không có một tự tính, không có một cơ sở tự tồn nào, vì chúng sẽ bảo hòa theo một nguyên tắc cơ bản được tích hợp với các điều kiện theo một phương trình của sự sinh ra, trụ lại, hoại đi, và đến lúc diệt.

Không có một Thượng đế vĩnh hằng bất biến và sáng tạo ra vạn vật, không có yếu tố Thượng đế không sinh ra từ đâu hoặc tự dưng đã có khi vạn vật chưa tồn tại.

Chỉ [vì] các hiện tượng trống không và vô thường nên chúng mới có thể phát sinh và hoại diệt. Và chỉ vì chúng trống rỗng nên việc xây dựng, bảo vệ, và phát triển xã hội để thoát khỏi sự lang thang trôi nổi, vì vậy mới có thể thực hiện được sự công bằng và dân chủ trong xã hội. Giả sử các hiện tượng không trống không, không vô thường thì không có sự phát triển trong thế giới, tất cả đều hoàn toàn trong trạng thái tĩnh, bất biến, có thể nói là “đông cứng trong vô cực”. Khi đó sự vật sẽ không phụ thuộc và vì không cần một điểm tựa nào để tồn tại nên chúng chết cứng trong vĩnh cữu.

Vì vậy, vạn vật không có một tự ngã, không có một tự tính và chúng trống không, vì chúng tùy thuộc vào [điều kiện của mối liên hệ] tồn tại. Mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác.

Nếu sự vật hiện tượng không phụ thuộc và không cần một điểm tựa nào để tồn tại (tương đồng với biểu thị “cơ bản tự tồn”), nếu chúng nó có một cơ sở tự tồn, một cái gì đó không cần nương tựa vào đâu để tồn tại, không cần mối liên hệ nhưng lại giữ một địa vị tuyệt đối nằm trên tất cả những cái tương đối, khác với thế giới luôn biến đổi được cấu tạo xung quanh, nó tự tồn, vĩnh cửu, v.v...như vậy thì thế giới hiện tượng không tồn tại.

Như vậy thì Thế giới quan của Học thuyết triết học Phật giáo lý giải như thế nào về vấn đề này? Chúng tồn tại hay không tồn tại, tồn tại như thế nào?

Học thuyết triết học Phật giáo lý giải bằng định luật vạn vật không thực sự phát sinh và hoại diệt: “Có thể cho rằng, hợp thành và tan rã [phân chia] được thấy, nhưng hợp thành và phân chia chỉ được nhận thấy [trên cơ sở] của sự không nhìn thấy được mối liên hệ”.

Vì vắng mặt một tự tính nên thế giới này không phải là thế giới của tự tồn tại, mà là thế giới của một sự phụ thuộc luân chuyển vô cùng. Vạn vật không , mà xảy ra, như những làn sóng khởi sinh trên mặt biển mà nước không được cho thêm vào; và cũng như các làn sóng trở về biển mà không mất nước chút nào, chính nó cũng không là, mà là một chuỗi tương tục của các đơn vị sóng. Sự vật hiện tượng cũng được nhìn nhận và giải thích theo phạm trù này, vì chúng không tồn tại độc lập. Chúng có mối tương quan được xác lập bởi nguyên lý của mối liên hệ. Và đến lúc này đây chúng được sinh thành trên cơ sở của của mối liên hệ, vạn vật không thực sự phát sinh và hoại diệt, mà là thế giới của một sự luân chuyển vô cùng.

2.5. Sự tương thích và phù hợp giữa khoa học và Phật giáo

2.5.1. Các vấn đề về Vật lý và Phật giáo

Ngày nay, khi nhân loại đang ngày một xích lài gần nhau hơn trong hiện tượng Toàn cầu hóa và sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã xác nhận sự tương thích và phù hợp giữa khoa học và Phật giáo đã tạo nên một cuộc đối thoại[19] đặc biệt và thú vị.

Điển hình, Sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính: Từ Big Bang đến Giác ngộ là một trong các khía cạnh đó, sự phát hiện này nhấn mạnh đến yếu tố Giác ngộ (bodhi). Mặt khác, trong dòng chảy tiến bộ của khoa học hiện đại yếu tố khoa của Phật giáo ngày càng trở nên sáng tỏ và tương thích nếu không muốn nói là vượt xa khoa học.

Từ khi đức Phật giác ngộ thành đạo đến lúc nhập Niết bàn, suốt cuộc đời giáo hóa Ngài luôn luôn nhấn mạnh: “Không có gì có thể coi như là vĩnh cửu, bất biến”. Nghĩa là, [Vũ trụ] không chắc chắn, thay đổi, không trường tồn; đây là giai đoạn sơ khai của sự hình thành vũ trụ và cũng là tính chất của tất cả sự vật.

Trạng thái thức tỉnh của vũ trụ bắt đầu với trực nhận đó, con người thấu hiểu được thể tính mọi hiện tượng. Thay đổi là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là sự hình thành, trụ lại, hoại không [biến hoại và diệt] (sinh, trụ, dị, diệt). Đó là 4 đặc tính của vũ trụ chứa vật chất và năng lượng, trong đó có sự sống của chúng ta. Nó đưa ra cách giải thích hoàn thiện về nhiều loại hiện tượng quan sát thấy trong vũ trụ. Nó mang đến một sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính, tất cả những hiện tượng dù là thuộc tâm lý hay thuộc vật lý (tự nhiên), chúng không có ngoại hạng, tất cả đều là sự thay đổi.

Vũ trụ là sự hình thành từ yếu tố không tính. Không nhằm nói về thể tính của con người và Không là vạn sự, vạn sự là Không, tức mọi hiện tượng cũng như thời gian đều không hề có tự tính. Tính Không và thời gian vừa chứa tất cả mọi hiện tượng, vừa xuyên suốt các trình tự phát triển sự vật. Bản thân nó là Không cũng như toàn thể vũ trụ cũng là Không. Vì vậy, với trực nhận đó, con người mới thấu hiểu được thể tính mọi hiện tượng. Tính Không hiểu ở đây không phải sự trống rỗng thông thường mà nói về một thể tính vô biên không thể dùng suy nghĩ, cảm nhận để đo lường, nằm ngoài cặp đối đãi có-không. Tính Không này không phải là một đối tượng để một chủ thể tiếp cận đến vì bản thân chủ thể cũng thuộc về nó. Vì vậy, nó chính là giác ngộ, là một kinh nghiệm không thể giải bày, nhưng có thể trực chứng và kiểm chứng trực tiếp.

Mặc dù chân lý này hoàn toàn hiển nhiên, có thể chứng nghiệm và kiểm nghiệm được mọi nơi, mọi lúc, nhưng chúng ta vẫn bị sự ngộ nhận vây phủ, không nhận thức được chân lý này một cách chân chính. Sự chuyển tiếp từ trạng thái không hiểu biết đến trạng thái ý thức và thừa nhận tính chất vô thường của vạn vật đã lập nên con đường hình thành vũ trụ.

Sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính: Từ Big Bang đến Giác ngộ là một học thuyết có tính thống nhất cao hơn cả vật lý; nhưng trước mắt, Học thuyết này đề cập đến sự thống nhất cao như vật lý.

Sự cộng hưởng chân không [Không tính hoặc là Tính không]

Đức Phật xác nhận chân không (Không tính) như nguồn gốc của mọi hiện tượng và không phân biệt chân không với hiện tượng. Chúng ta khảo sát qua luận thuyết: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” trong Phật học. Trong Bát nhã Tâm kinh, Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất rằng: “Này Xá Lợi Phất! Thế giới hiện tượng hay Sắc này là Không, và Không quả thực là thế giới hiện tượng. Không không khác với thế giới hiện tượng hay Sắc, thế giới hiện tượng hay Sắc không khác với Không. Cái gì là thế giới hiện tượng thì cái đó là Không, cái gì là Không thì cái đó là thế giới hiện tượng”.

Trong lý thuyết lượng tử, vấn đề chân không là vấn đề quan trọng bật nhất để giải thích thế giới hiện tượng. Chân không không phải là một môi trường mà trong đó không có gì cả, trái lại chân không là một loại “ether [20] đặc biệt chứa những thăng giáng phần lớn của trường lượng tử điện từ.

Chúng ta khảo sát chân không qua dạng thăng giáng điện từtheo phương pháp phân tích Fourier (dao động tử), theo phương pháp này có thể tính được năng lượng chân không, và thấy rằng chân không có một năng lượng khổng lồ. Một hiện tượng quan trọng xảy ra trong chân không là lực Casimir, trong công nghệ nanô không thể không tính đến lực Casimir; khảo sát chân không qua dạng năng lượng tối (có thể là năng lượng của chân không); khảo sát qua vấn đề không thời gian [Không tính trong Phật học], như vậy từ chân không chúng ta có tất cả. Chân không, theo các lý thuyết này, luôn có sự dao động khối lượng chứa một lượng nhất định năng lượng và vật chất[21]. Điều này nghĩa là, ở một thời điểm nào đó, luôn có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên các hạt có năng lượng dương và một thời điểm khác hạt này biến mất. Đây chính là [điều kỳ diệu] sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính: Từ Big Bang đến Giác ngộ.

Thế giới khoa học Tây phương thừa hưởng một gia tài triết học lâu đời và một nền khoa học kỹ thuật tiên tiến đã không ngừng kinh ngạc trước một khái niệm Không tính mà đức Phật đã khám phá ra cách nay hơn hai mươi lăm thế kỷ. Không tính mang trong nó hai đặc tính cơ bản:

i. Đặc tính triết học và khoa học, tức là nói lên bản chất của hiện thực mọi hiện tượng;

ii. Đặc tính thực dụng, mang tính chất phương tiện, tức là giúp người tu tập hóa giải mọi sự

ngộ nhận để đạt trí tuệ và thấu hiểu được thể tính mọi hiện tượng [giác ngộ].

Vì vậy, Tính Không vừa chứa tất cả mọi hiện tượng, vừa xuyên suốt các trình tự phát triển sự vật.

Cách thể hiện của Vũ trụ

Nếu quan sát một cách phân tích thì vô thường được xem nhưmột sự thật, là vạn vật tồn tại trên cơ sở lệ thuộc vào cái khác nào đó, phát sinh từ cái khác nào đó và chuyển biến thành cái khác nào đó. Không một vật nào tồn tại độc lập, không vật nào thường còn. Trong vật lý học cũng vậy, trong các nghiên cứu khoa học các khoa học gia luôn quan niệm rằng mọi vật đều luôn biến động. Ví dụ như vũ trụ cũng luôn thay đổi, hiện nay vũ trụ đang giãn nở và xuất phát từ một Big bang.

Trong Phật học, đức Phật phân định vũ trụ theo tính đa nguyên. Vì vậy, Phật giáo phân thế giới [vũ trụ] thành 3 loại: Tiểu thiên, Trung thiên, Đại thiên thế giới. Trong đó, một ngàn thế giới hợp thành một Tiểu Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới hợp thành một Trung Thiên Thế Giới, và một ngàn Trung Thiên Thế Giới hợp thành một Đại Thiên Thế Giới. Do vậy, ta lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới thì Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế Giới gồm khoảng một triệu thế giới, Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế giới v.v... Cách đây hơn 2500 năm Phật học đã biết ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có hằng hà sa số thể giới khác. Điều thú vị, khái niệm đa vũ trụ là quan điểm tạo nên sự thống nhất giữa vật lý học và Phật học trong nhận định về vũ trụ.

Phật học có quan điểm vô thường khẳng định sự biến đổi thường trực của vũ trụ như trong vật lý học. Tức là không thường, không mãi mãi ởtrong một trạng thái nhất định mà luôn thay đổi hình dạng. Chúng đi từ trạng thái hình thành, cao to trụ lại, đến thấp nhỏ, và đến tan rã v.v… đây chính là những giai đoạn thay đổi của thành, trụ, hoại, không. Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ đến lớn đều nằm trong định luật vô thường, đức Phật đã khẳng định “Hoại diệt là bản chất của chư hành (các hoạt động của các hiện tượng)”. Định luật này xác nhận sự trùng hợp một cách chính xác với quan điểm mọi vật đều biến đổi trong vật lý học.

Trong Vật lý học, khoa học gia nói đến những vũ trụ song song cấu tạo thành đa vũ trụ. Và có bốn mức vũ trụ song song tạo thành cực đa vũtrụ. Chúng ta khảo sát quá trình Big Bang, vật lý học nhìn nhận mọi vật đều luôn biến động. Vì vậy, lúc vũ trụ được 10-35 giây xảy ra quá trình nở lạm phát ( E. inflation) và kết thúc vào thời điểm 10-32 giây. Đây là một quá trình giãn nởbột phát của vũ trụ, điều này giải thích rằng: trong một thời đoạn ngắn ngủi, kích thước của vũ trụ đã tăng lên 1050 lần. Quá trình nở lạm phát có thể bắt nguồn với một dạng năng lượng tối. Tiếp tục quá trình đó, sau Big Bang 10-33 giây vũ trụ ở vào trạng thái plasma của quark và gluon (PQG ). Trong trạng thái này quark chuyển động tự do và tương tác với nhau bằng trao đổi gluon. Khi vũ trụ được 10 - 6 giây thì hình thành các hadron, đến lúc vũ trụ được 100 giây thì các hạt nhân nguyên tử được hình thành. Và lúc vũ trụ được 300. 000 năm tuổi thì bức xạ tách khỏi vật chất và dẫn đến CMB (Cosmic Microwave Background- bức xạ tàn tư của vũ trụ). Sau đó vũ trụ nguội dần và nhiều quá trình chuyển pha đã xảy ra. Vậy vũ trụ luôn biến đổi. Thậm chí các hằng số vật lý có thể thayđổi theo không gian và thời gian.

Điều này, trong Kinh Hoa Nghiêm[22], phẩm Thế Giới Thành Tựu, BồTát Phổ Hiền tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới: Nhân duyên khởi, chỗ trụ nương, hình trạng, thể tánh, trang nghiêm tánh, thanh tịnh tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biến sai biệt, và môn vô sai biệt. Phẩm Thế Giới Thành Tựu đề cập: “Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn....hoặc hình nhưnước xoáy....hoặc hình như hoa ... có vi trần số hình sai khác như vậy.” Đến phẩm tiếp theo, phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Phổ Hiền Bồ Tát lại tuyên thuyết: “Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu Di, hoặc hình sông, hoặc hình xoay chuyển, hoặc hình nước xoáy, hoặc hình trục xe...hoặc hình hoa sen...có vi trần số hình trạng nhưvậy. Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ,hoặc có a-tăng-kỳ kiếp trụ, hoặc có vô-lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất-khả-sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ,hoặc có bất khả thuyết kiếp trụ, ...có vi trần số kiếp trụ như vậy.”

Từ sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính: Từ Big Bang đến Giác ngộ chính là sự đập tan tất cả những tà kiến, vì mỗi cấu trúc của một hệ thống siêu nhiên tất nhiên phải lập cơ sở trên một khái niệm, một kiến giải “trường tồn” nào đó, hoặc một nhân tố “trường tồn” nào đó chính bên trong nó. Cần nhận thức rằng: Tính chất tổng quát và xuyên suốt của nguyên lý biến đổi để nhìn thấy sự tương đối của vạn vật mà thôi. Đó chính là từ Big Bang đến Giác ngộ.

Từ khi viết “Sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính: Từ Big Bang đến Giác ngộ” tôi đã không còn cảm thấy kinh hãi khi ngắm nhìn bầu trời đêm, bầu trời thăm thẳm thắp sáng bởi vô vàn các vì sao. Tôi đã giữ một vị thế thoải mái trong bầu trời rộng lớn. Ai nhận thức rõ điều này, quan niệm về thần thánh, thượng đế sẽ lui vào bóng tối.

2.5.2. Các vấn đề về Tâm lý học và Phật giáo

Trong suốt cuộc đời giảng dạy và giáo hóa của đức Phật, Ngài chỉ nói hai điều, đó là: “Khổ và cách diệt khổ”, mà phương pháp để nhìn thấy khổ và cách diệt khổ của đức Phật chính là phương pháp nhìn vào tâm, kiểm soát và làm chủ tâm. Vì vậy, kiểm soát tâm, làm chủ tâm, tức làm kiểm soát và làm chủ được dòng tâm thức của mình.

Vậy, tâm thức là gì? Đức Phật đã nói gì về tâm thức? Hoạt động của tâm thức ra làm sao? Cách thức nhận biết và kiểm soát tâm thức như thế nào? Đó chính là lĩnh vực của bộ môn khoa học về Tâm thức, còn gọi là Tâm thức học.

Tâm thức học có từ bao giờ? Ai là những người đặt nền móng cho Tâm thức học?

Theo nghiên cứu và đánh giá của khoa học hiện đại về tâm thức trong ngành khoa học tâm lý và khoa học Tâm thức học thì các nghiên cứu cổ xưa nhất được ghi nhận về lĩnh vực tâm thức là của đức Phật, Plato, Aristotle, Adi Shankara (triết gia Ấn Độ giáo) và một số triết gia Hy Lạp, Ấn Độ cổ đại khác là những người khai sinh ra bộ môn khoa học này. Ngoài ra, còn có một số triết gia khác cũng đề cập đến tâm thức trong thời kỳ tiền khoa học, dựa trên nền thần học. Trong các triết gia đó, đức Phật được xem là người đi tiên phong trong lĩnh vực Tâm thức học.

Tâm thức thường được gọi tắt là tâm, là thuật ngữ chỉ cho các khía cạnh của trí tuệ và ý thức. Trong toàn bộ lời giảng dạy của đức Phật về tâm thức và dòng tâm thức hoặc khi đề cập đến hiện tượng tâm thức thì đức Phật luôn gọi và sử dụng gắn gọn là Tâm. Sự thể hiện tâm thức trong các kết hợp của tư duy, tri giác, cảm xúc, tưởng tượng (đức Phật gọi là Tưởng uẩn), ý thức… đức Phật gọi tâm thức là dòng ý thức, đó chính là Tâm thức học.

Vì vậy, đức Phật định nghĩa về Tâm như sau: “Do tâm sanh, nên các pháp mới sanh. Do các pháp sanh, cho nên tâm mới sanh. Tâm chẳng ở trong và cũng chẳng ở ngoài. Cái tâm hiểu biết phân biệt, không ở trong thân, không ở ngoài thân, không ở chính giữa, không ở chỗ nào cả; không dính mắc (vô trước) tất cả đó gọi là tâm.”

Kỹ thuật kiểm soát, làm chủ tâm lý

Nhiệm vụ nghiên cứu Tâm lý học của Học thuyết triết học Phật giáo là chỉ ra phương pháp cũng như kỹ thuật kiểm soát, làm chủ tâm, tức là kiểm soát, làm chủ tâm lý.

Học thuyết Chủ nghĩa xã hội Phật giáo nghiên cứu đến hoạt động-hành động, tinh thần (ý thức, ý chí) và tư tưởng của con người bằng thuật ngữ Tâm để giải thích các hiện tượng hoạt động của thể chất, của trạng thái tâm, và các yếu tố bên ngoài [trần cảnh] tác động lên hành vi và tâm thức của con người. Nó chính là tâm thức suy nghĩ phân biệt, chỉ cho toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm lý; Tâm chứa đựng mọi sự trải nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần, là thực tại tối thượng[23] của mọi hiện tượng nhị nguyên, gốc của tất cả mọi hiện tượng tâm thức. Khi Tâm được khảo sát như một thể riêng biệt, thì trên thể riêng biệt đó thế giới hiện tượng xuất hiện.

Theo khía cạnh của Hình thái học Phật giáo, Tâm được nhận thức từ danh từ Hṛdaya của Phạn ngữ thì được gọi là:

i. Nhục đoàn tâm, tức là trái tim bằng thịt (vật chất);

ii. Tinh yếu tâm, tức là chỉ cho tinh hoa;

iii. Kiên thật tâm, tức là chỉ cho thể tính tuyệt đối. Nó chính là thể tính bất động, thường hằng, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức nhằm chỉ cho cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân [thân thể] thuộc tâm [tâm lý].

Tâm, theo khía cạnh dạng thức của trường phái tâm lý thì được hiểu và được định nghĩa thêm ba loại Tâm, và lúc này Tâm được nhận thức từ thuật ngữ Citta của Pali ngữ:

i. Tập khởi tâm, tâm này chính là thức, tức là chỉ cho 8 loại tâm thức: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức, Thức suy nghĩ phân biệt, Thức gốc (còn gọi là Thức căn bản của mọi hiện tượng);

ii. Tư lượng tâm, tức là Thức suy nghĩ phân biệt;

iii. Duyên lự tâm, tức là Ý thức.

Với luận đề: Tâm, và các hiện tượng hoạt động của thể chất [Thân], của trạng thái tâm, và của các yếu tố bên ngoài [trần cảnh] tác động lên hành vi và tâm thức, liên hệ đến hành động [Hành, S. saṃskāra, P. saṅkhāra: Hành được xem là một ý định, một chủ tâm có thể dẫn tới một tạo tác], tinh thần (ý thức, ý chí) và tư tưởng [Tưởng, S. saṃjñā, P. saññā: là nhận biết các tri giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị...kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện] của con người; là luận đề cơ bản để giải quyết vấn đề về nghiên cứu Tâm lý trong triết học Phật giáo.

Như vậy, với luận đề về Tâm, Học thuyết triết học Phật giáo đã đưa ra phương pháp để giải thích nhiệm vụ của Tâm lý học đặt ra. Triết học Phật giáo giải thích những hành vi và những tiến trình tâm lý [tâm thần] của con người bằng luận đề về Tâm đã nêu ở trên. Cũng với luận về Tâm, triết học Phật giáo giải thích bản chất của các hiện tượng về tâm (tâm lý), nghiên cứu và giải thích mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý đó, chỉ ra vai trò-vị trí và chức năng của tâm (tâm lý) đối với các hoạt động của con người.

Từ đó, triết học Phật giáo đưa ra những vấn đề thuộc về lĩnh vực của tâm lý và trình bày phương pháp nghiên cứu về quy luật chung nhất của sự vận động trong thế giới đời sống con người dưới sự tác động qua lại tích cực của cá nhân với thực tại khách quan. Đó chính là kỹ thuật biện chứng tâm lý trong Học thuyết triết học Phật giáo.

Triết học Phật giáo nêu ra kỹ thuật biện chứng tâm lý để làm gì? Nêu ra kỹ thuật biện chứng tâm lý không nằm ngoài mục đích là nghiên cứu tâm lý học nhằm khắc phục các vấn đề về thực hành, hành vi, các vấn đề về phân tâm (Phân tâm học), khắc phục những vấn đề về nhận thức tâm lý và ứng dụng trong đời sống xã hội một cách tích cực, nhằm đưa việc nghiên cứu này đem ra áp dụng vào đời sống thực tiễn để kiểm soát hoạt động tiêu cực. Ví dụ, ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau trong xã hội, như: Ứng dụng trong Quản lý kinh doanh, Y học lâm sàng (Tâm lý học lâm sàng), Tâm lý học sức khỏe, Tâm lý học học đường, Thiết kế sản phẩm phù hợp với tâm lý, Tâm lý học pháp lý, Tâm lý học xã hội, v.v...

Vì vậy, kỹ thuật biện chứng tâm lý của Học thuyết triết học Phật giáo góp phần đóng góp vào tiến trình nhận thức tri thức cho con người, tức là nhận thức về Tâm thức. Kỹ thuật biện chứng này còn giúp cho con người nhìn thấy, biết về tâm lý của mình, tức là chỉ cho con người chúng ta nhận thức được các khía cạnh của trí tuệ và ý thức trong dòng tâm thức. Từ đó, nó chỉ cho con người chúng ta ứng dụng các quá trình có ý thức của bộ não cũng như kiểm soát được hoạt động của tiềm thức con người nhằm tránh hoặc hạn chế những sai lầm hoặc tội lỗi một cách hữu hiệu.

Đức Phật nhấn mạnh đến yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm không gì ngoài Ngũ uẩn. Ngoài Ngũ uẩn ra không có gì gọi là cái “tôi ” hiện hữa. Năm yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức cùng có một đặc tính chung là luôn biến đổi, không chắc thật và không có tự ngã, chúng chỉ là giải hợp mà tạo thành.

Khổ xuất phát từ sự bấp bênh, không chắc thật của các uẩn đó; và con người được tạo thành từ năm uẩn đó thì không gì kh