Tìm hiểu bài Kinh "Phước Cúng Dường" trong Luật Nghi Khất Sĩ

Ban TT-TT Hệ phái 22/09/2012, 23:01

I. ĐỊNH NGHĨA PHƯỚC CÚNG DƯỜNG

1. PHƯỚC

Phước hay Phước Thiện (P: Kusala, Puñña, Good deeds), Phước đức hoặc Phúc đức, cũng gọi là Phúc, đồng nghĩa với Công đức. Phước tiếng Hán là ; tiếng Sanskrit là Puṇya (पुण्य); tiếng Pāli là: Puñña. Theo các từ điển và khảo cứu ngôn ngữ thì có bốn nghĩa chính:

(i). Sự may mắn, giàu có, thịnh vượng, phúc lành, còn gọi là công đức, lòng tốt hay việc lành.

(ii). Quả báo tốt đẹp do kết quả tu tập. Quả báo do thiện nghiệp phát sanh từ kết quả tu tập phước huệ (S: Puṇya (पुण्य), P: Puñña).

(iii). Thiện nghiệp có được trong Dục giới.

(iv). Lòng nhân đức, lòng bao dung, lòng từ thiện; còn được hiểu là sự ban tặng, sự bố thí; đó là Phúc đức (Phước đức) nhờ bố thí hay thực hiện nghi lễ (S: Pūjā; पूजा), như tụng kinh, niệm Phật, trì chú.v.v...

Trong Từ Điển Phật Học (Đạo Uyển) chia thành 7 loại phúc báu (phước) như sau: (i) Phúc điền, (ii) Phúc đức, (iii) Phúc huệ, (iv) Phúc nghiệp, (v) Phúc sinh thiên, (vi) Phúc trí, (vii) Phúc tụ.

Trong tiếng Việt, phước hoặc phúc có nhiều nghĩa và có nhiều loại phúc, hết sức đa dạng, tùy theo ngữ cảnh nên Từ Điển Tiếng Việt của Trung Tâm Từ Điển Học Vietlex phân loại chữ Phúc thành 18 loại, bao gồm luôn từ Phúc âm trong đạo Kitô.

Ngoài ra, theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn giải thích như sau: “Phước (Phúc) là việc yên thuận, cảnh vừa ý, điềm tốt lành, đồng nghĩa của nó là Công đức, trái với: tội, họa, khổ.”

Những ai hiểu đạo lý, làm những việc lành, việc phải, việc chánh bằng thân thể, lời nói và ý tưởng thì đặng Phước. Phước này đến cho mình trong đời này hoặc đời sau bằng những sự sang trọng, vinh diệu, giàu có, sống lâu, tướng tốt, yên ổn và mọi điều vui sướng; hay còn được hiểu là sống lâu, sắc tốt, yên vui, sức mạnh và trí tuệ.

Danh từ Phước trong tiếng Pāli là Puñña, có nghĩa là trạng thái làm cho tâm của mình được trong sạch, khỏi bị não phiền; ngược với PhướcTội (pāpa), là trạng thái làm cho tâm bị ô nhiễm bởi phiền não.

Các bộ phái Phật giáo chia nghiệp cảm ràng buộc chúng sanh trong ba cõi làm ba: Phước, Phi phướcBất động. Nói cách khác (i) Phước nghiệp (S: Puṇya-karma; पुण्यकर्म) là nghiệp thiện cõi dục, cảm sinh quả khả ái, làm lợi ích hữu tình; (ii) Phi phước nghiệp (S: Apuṇya-karma; अपुञ्यकर्म) là các nghiệp bất thiện cõi dục, cảm sinh quả phi khả ái, làm tổn hại hữu tình, (iii) Bất động nghiệp (S: Aniñjya-karma; अनिञ्ज्यकर्म) là nghiệp thiện cõi sắc, cõi vô sắc, chiêu cảm quả bất động.

Trong Luận Du-già Sư Địa quyển 9 giải thích như sau: “Phước nghiệp, nghĩa là chiêu cảm quả dị thục ở cõi thiện và thuận theo năm đường mà thụ thiện nghiệp; Phi phước nghiệp, nghĩa là chiêu cảm quả Dị thục ở các thú và thuận theo năm đường mà thụ bất thiện nghiệp; Bất động nghiệp, nghĩa là chiêu cảm quả dị thục cõi Sắc, Vô sắc và thuận theo cõi Sắc, Vô sắc mà thụ thiện nghiệp”.

Ngoài ra, Phật giáo Đại thừa chia hạnh Lục độ ra làm hai phần: Nghiệp Phước Trí. Trong tất cả những việc ngoài các hành vi lấy trí huệ làm thể là Phước nghiệp và xem những hành vi lấy trí huệ để làm thể là nhân để thành Phật là Phước xuất thế gian. Cho rằng công lao tích lũy được dùng cho sự đạt tới đại giác. Sự hồi hướng một phần công lao của mình cho việc cứu độ người khác là một phần trong những bổn nguyện của chư Bồ Tát.

2. CÚNG DƯỜNG

Cúng dường là ghép hai chữ: Cúng () và dưỡng (S: Pūjā; पूजा, ),là hiến cúng hay dâng hiến những lễ vật lên các bậc tôn kính một cách tôn kính do lòng thành của mình; như việc dâng cúng thực phẩm, y phục, thuốc trị bệnh cho Đức Phật, chư Tăng, Giáo thọ sư, Ông bà, Cha mẹ, v.v… Nó được hiểu bởi các nghĩa sau:

(i). Dâng tặng, dâng cúng, hiến dâng.

(ii). Trình dâng, phục tùng, đáp ứng.

(iii). Đi theo, hộ tống.

(iv). Sự dâng cúng.

(v). Thị giả, người theo hầu, đoàn tùy tùng.

Cúng dường là sự phụng dưỡng cao quý, hướng thượng; vì là đối với người trên thì phụng sự, tôn kính, đối với người dưới thì hòa nhã thương yêu, chăm sóc.

Trong Bộ Saṃyuttanikāya - Sāgathavagga, Kinh Kim Dadasutta Đức Phật đã trả lời câu hỏi của chư thiên về ý nghĩa của bố thí, cúng dường như bài kệ sau:

“Annado balado hoti,
Vatthado hoti vaṇṇado.
Yānado sukhado hoti,
Dīpado hoti cakkhudo.
So ca sabbadado hoti.
Yo dadati upassayaṃ,
Amataṃdado ca so hoti,
Yo dhammamānusāsati".

"Bố thí những vật thực,
Là bố thí sức mạnh.
Bố thí những y phục,
Là bố thí sắc đẹp.
Thí phương tiện đi lại,
Là thí sự an lạc.
Bố thí đèn thắp sáng,
Là bố thí đôi mắt.
Người bố thí chỗ ở,
Là bố thí tất cả.
Bậc giảng dạy chánh pháp,
Là thí pháp bất tử
".

Cho nên, hạnh cúng đường trong sạch đúng phép được gọi là Ngũ chủng cúng dường ( ): Năm món đồ cúng dường: (i) hương, (ii) Hoa, (iii) Nhang, (iv) Đồ ăn uống, (v) Đèn sáng.


Thành tâm cúng dùng Tăng bảo - Phước điền vô thượng ở đời

Ngũ chủng bố thí ( ): Năm việc Bố thí: (i) Thí cho người ở phương xa, (ii) Thí cho người sắp đi phương xa, (iii) Thí cho người bệnh tật ốm yếu, (iv) Thí cho người đói khó, và (v) Thí cho bậc trí huệ đạo đức. Để cúng dường, bố thí được y như pháp và có phước báu chánh hạnh thì cần có niềm tin chân chánh hiểu biết về phước báu do hạnh thiện (phước nghiệp) phát sanh thì người cúng dường bố thí cần biết năm chỗ cúng dường đúng pháp và cao thượng hay còn gọi là Ngũ xứ cúng dường: ( ), đó là: (i) Cúng dường cho Cha, (ii) Cúng dường cho Mẹ, (iii) Cúng dường cho Thầy dạy mình, (iv) Cúng dường cho ông Thầy làm khuôn phép cho mình, (v) Người có bệnh. Qua đó, được đầy đủ phước báu an vui, hạnh phúc và tăng trưởng tín tâm vào Tam Bảo.

II. TRÍCH DẪN NGUYÊN VĂN

Trong Chơn Lý Luật Nghi Khất Sĩ, Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang có giải thích về ý nghĩa của phước cúng dường, phương pháp phát khởi tâm cúng dường bố thí, đưa ra lộ trình về nhân cúng dường là quả báo của phước nghiệp thanh tịnh để phát sanh định huệ, một cách rốt ráo như sau:

“Phước cúng dường này của tín chủ

Tam nghiệp thanh tịnh định, huệ tu

Tánh cũ tự mình gồm chứa đủ

Tây phương an dưỡng hưởng thiên thu.

Phước cúng dường này của chư linh

Dứt tiêu tội chướng thoát vô minh

Sám hối ăn năn tâm niệm Phật

Tây phương Cực lạc đắc siêu sinh.

Phước cúng dường này của bá tánh

Cầu an tai nạn đặng muôn lành

Phát nguyện tu hành thành chánh giác

Tây phương Tịnh độ chỗ vãng sanh.”

III. PHÂN TÍCH VĂN, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA

1. Phân tích văn

Bài kinh Cầu Nguyện Phước Cúng Dường trên nằm trong phần Bài học Khất Sĩ trong Chơn Lý Luật Nghi Khất Sĩ. Xét toàn bộ cấu trúc câu thì đây là bài thơ thất ngôn (thất ngôn thập nhị cú) được Tổ Sư sử dụng để truyền tải nội dung, ý nghĩa và phương pháp cúng dường như là một pháp môn tu tập trong muôn ngàn pháp môn trong giáo pháp của đức Phật.

Cụ thể hơn, tuy được xét và nhận định như là một bài thơ, nhưng ở đây tìm hiểu kỹ về thơ thì phải gọi và biết rằng đây là bài kinh văn thi kệ theo thể thơ thất ngôn; nhưng không thể hiểu ngầm ý pháp một cách đơn giản hạn lượng như những bài thơ thất ngôn thông thường. Tại sao như vậy?

Thứ nhất, vì văn học là một môn nghệ thuật, văn học nhận thức, phản ánh đời sống con người, văn học là sự thể hiện tinh tế tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng, quan điểm và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn đối với con người và cuộc sống.

Thứ hai, vì để hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của một bài thơ thất ngôn thì cần phải nắm rõ các yếu tố: bản thân tác giả và truyền thống xuất thân của tác giả, hoàn cảnh ra đời của bài thơ như thế nào. Nội dung được truyền tải trong hoàn cảnh lịch sử và thời đại của bài thơ ra đời ra sao. Thông qua đó, mới nhận định nội dung được truyền tải ra sao, với vấn đề gì trong xã hội, ý nghĩa trong hoàn cảnh lịch sử của bài thơ được sáng tác như thế nào. Và như vậy mới thấy được tính thiết thực tích cực của bài thơ về giá trị nhân văn và giá trị nhân đạo.

Do vậy, ở đây bài kinh cầu nguyện trên bao gồm các yếu tố cơ bản của một bài thơ thất ngôn được tìm hiểu như trên. Và có đầy đủ các yếu tố văn học về:

(i). Ngôn ngữ văn vần hay kệ tụng.

(ii). Ngôn ngữ văn xuôi.

(iii). Ngôn ngữ sử dụng trong hệ thống tục tạng, lễ hội dân gian.

(iv). Ngôn ngữ thơ ca được phát triển về sau.

Hình thành những đặc điểm của ngôn từ văn học, và như vậy hình dung chung bài kinh văn cầu nguyện này cũng hàm chứa đầy đủ các yếu tố đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật văn học vốn có như sau:

- Tính hệ thống

- Tính chính xác

- Tính truyền cảm

- Tính hình tượng

- Tính hàm súc

- Tính đa nghĩa

- Tính cá thể hóa

Hơn thế nữa, bài kinh văn cầu nguyện còn mang nhiều giá trị tâm linh thuần khiết cao thượng và trong sạch về hạnh tu cúng dường, bố thí, để phát sanh định huệ. Thông qua cách thức và phương pháp phát khởi tín tâm trong giáo pháp uyên áo, siêu việt từ nơi Đức Phật, không giới hạn thời gian, không gian, bao gồm đủ các thành phần người trong xã hội. Nếu biết phát khởi tín tâm chân chánh và có phương pháp thì sẽ được an vui, hạnh phúc, phước báu, thanh tịnh, dứt tiêu tội chướng, v.v…

2. Nội dung và ý nghĩa

Trong kinh tạng Đức Phật đã dạy về hành động thiện nghiệp phát sinh phước báu an vui theo duyên và nghiệp cảm của sự cúng dường bố thí. Phước sanh lên do bởi nhiều nhân duyên, trong Puññakiriyāvatthu: Hành động tạo nên phước thiện, có 10 pháp phát sanh:

1- Bố thí, cúng dường (dāna).
2- Giữ giới (sīla).
3- Hành thiền (bhāvanā).
4- Cung kính (apacāyana).
5- Giúp đỡ trong việc thiện (veyyāvacca).
6- Hồi hướng – chia phước (pattidāna).
7- Hoan hỉ với phước được hồi hướng của người khác (pattānumodanā).
8- Thuyết pháp (dhammadesanā).
9- Nghe pháp (dhammassavanā).
10- Chánh kiến (diṭṭhijukamma).

Mở đầu đoạn kinh cúng dường này, Tổ Sư đã khẳng định pháp cúng dường “Phước cúng dường này”:

“Phước cúng dường này của tín chủ

Tam nghiệp thanh tịnh, định, huệ tu

Tánh cũ tự mình gồm chứa đủ

Tây phương an dưỡng hưởng thiên thu”

Sao gọi là phước cúng dường này? Tổ Sư đã khẳng định phước là sự cúng dường ngay khi phát khởi tâm cúng dường hiện tại bằng hạnh nghiệp chân chánh với niềm tin chánh tín của tín chủ. Cho nên sự cúng dường của tín chủ là sự phát khởi từ bi tâm từ bậc thầy nhận cúng, bậc ứng cúng và theo pháp phước thiện bố thí được thành tựu do hội đủ nhân duyên kết hợp như:

(i) Tác ý thiện tâm bố thí (cetanādāna).

(ii) Vật bố thí (dānavatthu).

(iii) Người thọ thí (paṭiggāhaka).

Do đó, mới được khẳng định là “Phước cúng dường này của tín chủ, Phước cúng dường này của chư linh, Phước cúng dường này của bá tánh”, đó là sự mang tính hình tượng hóa mà lại rất hiện thực như được phát tâm cúng dường bằng sự trong sạch. Và người nhận cúng với pháp như lý tác ý về sự cúng dường bố thí trong hiện tại mà được vui thích trong hiện tại của người cúng hay người cư sĩ.

Được gọi tín chủ là người chủ có niềm tin. Như thế nào được gọi là tín chủ như vậy? Ở đây, trong Samyutta Nikàya, Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật đã giảng cho Mahànàma, một cư sĩ bộ tộc Thích-ca (S. śākya, P. sakka) về người tín chủ hay người cư sĩ phải là: “Ai quy y Phật, này Mahànàma, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ.” Cư sĩ Mahànàma bạch Thế Tôn tiếp “Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người cư sĩ đầy đủ tín? Ở đây, này Mahànàma, người cư sĩ có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn". Cho đến như vậy, này Mahànàma, là người cư sĩ đầy đủ tín”. Ở đây, Tổ Sư dạy sự thành kính từ tâm và hạnh khiêm cung nhã nhặn, xa rời tự ngã và ngã sở trong sự thành kính tùy hỷ là một phước báu tối thượng “thành kính là phước báu, quên mình là cội phước”, để đưa đến nhân phước thiện trong sạch từ quả của sự thành kính, duyên theo nhân và quả ấy mà thành tựu được ba la mật về hạnh bố thí, nên Tổ Sư đã nói: “phước là sự bố thí”. Do vậy, Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang mới khẳng định và thừa nhận tín chủ là ý kinh này vậy; cho nên các bậc nhận cúng mới chứng minh và chú nguyện:

Tín chủ cúng dường Phật Pháp Tăng

Chứng minh công đức nhờ Tam bảo

Chú tâm nguyện độ thiện duyên này

Tín chủ đời đời thêm phước báu”

Người cúng, người cư sĩ có thiện duyên, cúng dường Phật Pháp Tăng và được chứng minh công đức nhờ vào Tam Bảo; bởi thế cho nên tín chủ đời đời thêm phước báu. Tam nghiệp được thanh tịnh thì phát sinh định, huệ. Khi tam nghiệp tu tập hạnh phước là thực hành pháp tu phước huệ song tu nên thuận theo nghiệp thiện trong các pháp mà phát sanh định, huệ. Định huệ phát sanh cũng có nghĩa là hành giả đang trên lộ trình chứng ngộ và sẽ chứng ngộ trong từng chi phần pháp thông qua pháp môn cúng dường bố thí, đoạn trừ nhân xấu và các đường nghiệp xấu ác, “được bảo hộ trong sở hành, được bảo vệ trong năm học giới, và có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú, nếu vị ấy muốn, có thể tự đáp về mình như sau: "Ta sẽ đoạn tận địa ngục, đoạn tận loài bàng sanh, đoạn tận loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc đạt được Chánh giác.”(Anguttara Nikàya- Gihi Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh, Kinh Gia chủ).

“Tánh cũ tự mình gồm chứa đủ

Tây phương an dưỡng hưởng thiên thu.”

Khi phước huệ sung mãn trong pháp hành thiện nghiệp, được thanh tịnh, được phát sanh định và huệ, có nghĩa là hành giả đã và đang hóa giải nghiệp chiêu cảm trong ác thú và ác đạo. Sự tín tâm cúng dường và sự phát tâm thọ nhận như được tương ưng hay còn gọi là tam nghiệp tương ưng trong giáo pháp, trong pháp giới. Ngay nơi ấy, đó chính là tự tánh tam nghiệp cúng dường bằng sự thanh tịnh của tự tâm, và ngay nơi ấy tánh cũ hay Phật tính đã tự gồm chứa đủ một cách viên mãn. Cho nên Tổ Sư Minh Đăng Quang chỉ bày kết quả từ nghiệp nhân thánh thiện bằng sự cúng dường bố thí ba la mật trong sạch, như pháp trong tự tánh “Tánh cũ tự mình gồm chứa đủ” đến quả báo an vui là “Tây phương an dưỡng hưởng thiên thu”.

 


Chư Tăng nhất tâm chú nguyện hồi hướng cho tín chủ

Tổ Sư Minh Đăng Quang đã trình bày thế giới Tây Phương Tịnh Độ, Cực Lạc là sự an dưỡng bằng con đường Trung Đạo, qua hình bóng của Tăng đoàn: “Chính giới luật của Giáo hội Tăng già là xứ Tây phương Tịnh thổ, Cực lạc, an dưỡng của chúng sanh, là thế giới tinh thần hay viên ngọc quý trong giữa cõi trần, cũng là trường học ta bà của vũ trụ, chiếc thuyền bè giữa biển, hay nhà an lạc nơi giữa chợ v.v…” [1]

Tây Phương là xứ sở tịnh lạc, Tịnh Độ là chỗ an dưỡng, cũng là chỗ vãng sanh, “thế cho nên, kẻ đã hiểu ra, mau liền giải thoát, chết bỏ cõi đời, sanh qua nhà Phật. Kẻ đã sanh, kẻ đang sanh, kẻ chưa sanh. Đạo mà có trong đời, thì ai ai rồi cũng sẽ giác ngộ vãng sanh lần, để xa lánh cõi đời ác trược”.[2]

“Phước cúng dường này của chư linh

Dứt tiêu tội chướng thoát vô minh

Sám hối ăn năn tâm niệm Phật

Tây phương Cực lạc đắc siêu sinh”.

Tổ Sư khẳng định, Tây Phương Cực Lạc để được đắc siêu sinh, điều căn bản đầu tiên là Dứt tiêu tội chướng. Thế nào là dứt tiêu tội chướng? Dứt tiêu tội chướng là xa rời đắm nhiễm các dục nghiệp (Kāma - taṅha), và các pháp thế gian hữu lậu, cần phải tịnh hóa thân tâm, lục căn thanh tịnh không bị đắm nhiễm theo trần cảnh. Nhận biết được thực tại căn và trần cảnh để không phải duyên theo nhân và duyên, theo duyên của nghiệp cảm và dục cảm mà làm nhân cho vô minh khởi tiến. Do đó, chính “phước thí là con đường tinh tấn, phước thí là con đường vô lậu” điều tất yếu này quyết định để Tây phương, Cực lạc, Tịnh độ là chỗ đắc được, là chỗ siêu sinh thì “Dứt tiêu tội chướng thoát vô minh” cũng là cái quả phước báu được hiện tiền đã chứng minh và cầu nguyện cho tín chủ mau đến quả trí huệ, tín chủ mau đến quả chơn như”.

Tổ Sư Minh Đăng Quang đã đưa ra lộ trình về hành nhân để đi đến kết quả của nghiệp cảm phước thiện siêu sinh Tây phương Cực lạc. Là hành giả, chư linh nhứt nhứt phải sám hối ăn năn, tâm phải niệm Phật. Song song trong hai hành động sám hối và tâm niệm Phật làm nhân cùng với sự ngăn ngừa dứt tiêu tội chướng xa rời vô minh thì “Phước cúng dường này của chư linh” ắt nhiên với những điều kiện tự thân tu tập tác tạo phước báu, tự tâm hành pháp sám hối và niệm Phật thì kết quả tất yếu là đã, đang và sẽ là Tây phương Cực lạc đắc siêu sinh”. Do đó phước thí chính là “con đường giải thoát, là cầu xin cho tín chủ mau đến quả an lạc”.

“Phước cúng dường này của bá tánh

Cầu an tai nạn đặng muôn lành

Phát nguyện tu hành thành chánh giác

Tây phương Tịnh độ chỗ vãng sanh.”

      Cảnh giới Tây phương Tịnh độ được Tổ Sư nêu bày hết sức thiết thực theo con đường trung đạo chánh đẳng chánh giác, y theo ba đời chư Phật theo lẽ Lục hòa – Bát chánh của giới luật và Tăng già (Tăng đoàn): “…Chính giới luật của Giáo hội Tăng già là xứ Tây phương Tịnh thổ, Cực lạc, an dưỡng của chúng sanh, là thế giới tinh thần hay viên ngọc quý trong giữa cõi trần, cũng là trường học Ta bà của vũ trụ, chiếc thuyền bè giữa biển, hay nhà an lạc nơi giữa chợ v.v…

Trong đó có lan can, lưới, cây quý báu, đạo tràng như ao, pháp Bát chánh như nước, giáo lý như cát vàng, lẽ chánh đẳng chánh giác như mặt đất lưu ly, tứ chúng như mé ao, các bậc trí huệ như hoa sen, chơn lý sáng như hào quang, sự giảng giải nói ra như mưa hoa tuôn rưới, cõi sáng rỡ quang minh chánh thiện, không chút đen tối ác tà, tiếng dữ lời thô không còn. Tăng chúng thanh nhã, áo vàng phất phơ bay lượn; cõi êm ái lặng trang, không chó sủa, không mèo kêu, không gà gáy, trên chim hót, dưới cá lội. Nhà không có cửa, ngoài đường chẳng lượm của rơi, không tiền, không gạo; kỳ hoa, dị thảo, bửu quả trổ sanh, cõi bất thối vô sanh, Tăng chúng số trội không lường đếm”.[3]

Tây phương tịnh độ chỗ vãng sanh; ở đây Tổ Sư Minh Đăng Quang đã trình bày trong cái ý nghĩa của pháp thí và hành động phước thiện thuộc về danh pháp (nāmadhamma) do bởi cái sự của phước cúng dường mà phát sanh phước báu (phước hữu lậu và phước vô lậu tùy theo nhân phước nghiệp). Ngay nơi khi phát khởi tín tâm cúng dường trong sự thành kính là đã phát sanh phước báu thiện hoan hỷ vị tha và không sở hữu ngã. Vì thành kính là phước báu, quên mình là cội phước”, thì các ách nạn, tai ương hay bát nạn tam đồ trong tương lai sẻ tránh khỏi ấy vậy, thì cư gia bá tánh đặng sự muôn lành thành tựu pháp cầu an; đó chính là “Cầu an tai nạn đặng muôn lànhmà Tổ Sư đã rộng khai phương tiện theo pháp thiện mà dẫn dắt chúng sanh, bá tánh vào đạo trở về với tự tính an vui, đó cũng chính là làm cho phát khởi niềm tin; tin vào Phật là bậc sáng suốt vô sanh chánh biến tri - chánh đẳng chánh giác, tin vào cảnh giới Phật là chỗ an vui tự tại, tin vào chính tự thân tâm mỗi chúng ta có thể thành Phật và có thể hòa cùng bản giác tự tính Phật như chư Phật trong ba đời vậy. Ngang qua đó, chúng ta nhận rõ ý pháp sanh về xứ sở Tây phương Tịnh độ theo ý nghĩa Tổ đã trình bày chính là “Chính giới luật của Giáo hội Tăng già là xứ Tây phương Tịnh thổ, Cực lạc, an dưỡng của chúng sanh, là thế giới tinh thần hay viên ngọc quý trong giữa cõi trần”.

“…Giới luật Tăng già là miếng đất Tịnh độ, xứ an lạc của mỗi vị Phật; nơi đó thâu, chứa, rước, độ chúng sanh, dạy tu cho mau đắc quả! Cõi ấy dầu bao nhiêu, nhiều ít, ai ai, cũng không có sự tranh cãi rầy rà, ai nấy tự lo tu học lấy mình, không hay dòm ngó, không có danh lợi chen đua, khi đã thấu lý đạo rồi, thì lại xót thương muôn loại, mà chẳng còn sở chấp riêng mình. Người người đều biết hạ mình tôn trọng lẫn nhau trong tâm bình đẳng, hẳn thật yên vui.[4]

Tổ Sư Minh Đăng Quang đã nêu rất rõ tính thiết thực của pháp Bát chánh đạo (S. aṣṭāṅgika-mārga, P. aṭṭhāṅgika-magga) về quả báo phước cúng dường của bá tánh, chúng sanh là được an lành đi đến sự phát nguyện tu hành để thành chánh giác, nên Tổ khẳng định “cầu an tai nạn đặng muôn lành, phát nguyện tu hành thành chánh giác, Tây phương Tịnh độ chỗ vãng sanh.”



[1] Luật Nghi Khất Sĩ, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2004, tr. 59.

[2] Sđd, tr. 60.

[3] Sđd, tr. 59 - 60.

[4] Sđd, tr. 53-54.