I. TIỂU DẪN:
Dòng thời gian trôi qua, nhìn lại bối cảnh Phật giáo miền Nam Việt Nam vào thế kỷ XX, chúng ta nhận thấy trào lưu tư tưởng Khất sĩ đã nảy sinh và đông đảo đoàn thể Khất sĩ đã lần lượt ra đời tại đây. Sự kiện lịch sử tư tưởng – tôn giáo này được nêu lên ngay từ đầu bài viết với tính cách là một tiền đề cho những gì sắp trình bày được khơi nguồn thẳng lối.
Kính thưa quý vị.
Quả thật đã có nhiều đoàn thể tôn giáo xuất hiện tại miền Nam Việt Nam trong thế kỷ XX. Lịch sử ghi nhận:
– Năm 1926, phái Cao Đài hình thành từ những phong trào cầu cơ, mau chóng phát triển thành một đạo Trời mạnh mẽ và đặc sắc.
– Năm 1934 tại Sa Đéc, đức Tông sư Minh Trí (1886 – 1958) thành lập Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội là một dòng Phật giáo độc đáo tại Việt Nam. Giáo hội này được thành lập từ Lục Phương Tông của ngài Minh Trí, đã hình thành trước đó cả chục năm.
– Năm 1939, phái Phật giáo Hòa Hảo được ngài Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1947) sáng lập trên nền tảng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đã có gần 100 năm trước, chủ trương Tu nhân học Phật cho giới cư sĩ, hoạt động mạnh mẽ khắp mấy tỉnh miền Tây Nam Bộ.
– Năm 1945, tại Gia Định xuất hiện đoàn tu sĩ của Đại sư Huệ Nhựt (1903 – 1951) mang y bát như Phật Thích-ca thuở xưa, chủ trương hành theo Thích-ca chánh tông.
– Năm 1947, Tổ sư Minh Đăng Quang (1923 – 1954) lập Đạo Phật Khất Sĩ tại vùng Phú Mỹ – Mỹ Tho, qua năm sau ngài đưa Giáo pháp Khất Sĩ đến Sài Gòn, xem như chính thức ra mắt chính quyền và giới Phật giáo Việt Nam đương thời. Buổi đầu Đạo Phật Khất Sĩ có 2 đoàn Khất sĩ do Tổ sư sáng lập, gồm một đoàn Tăng và một đoàn Ni, sinh hoạt chung trong một giáo hội Tăng-già do ngài tổ chức.
– Năm 1955, ông Đoàn Trung Còn (1908 – 1988) thành lập Giáo hội Tịnh Độ Tông Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Giác Hải ở Phú Lâm – Chợ Lớn. Trước đó 20 năm ông đã nổi danh là một học giả Phật giáo lỗi lạc, xuất bản nhiều kinh sách Phật giáo bằng tiếng Việt.
– Sau khi Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng vào tháng 2 năm 1954, đến tháng 8 năm 1955, các đệ tử của ngài đã khôi phục Đoàn Du Tăng Khất Sĩ, du hành tại Nam Bộ. Đến tháng 5 năm 1956, đoàn Du Tăng Khất Sĩ này bắt đầu du hành ra miền Trung và Cao nguyên, gây tiếng vang lớn trong cộng đồng Phật giáo ở những nơi ấy. Từ đó, các đệ tử của Tổ sư Minh Đăng Quang đã lập thêm nhiều đoàn Khất sĩ, bên Tăng có đoàn Trưởng lão Giác Tánh và Đức Thầy Giác Tịnh, đoàn Trưởng lão Giác An, đoàn Pháp sư Giác Nhiên, đoàn Đức Thầy Giác Lý và đoàn Thượng tọa Giác Huệ – Giác Đức; bên Ni có đoàn Ni sư Ngân Liên và đoàn Ni sư Trí Liên ở miền Nam. Ngoài các đoàn Khất sĩ này còn có một số đoàn khác cũng được thành lập thêm, hành đạo khắp các tỉnh thành ở 2 miền Nam và Trung Việt Nam.
– Năm 1957, tại Linh Sơn Cổ Tự ở Núi Dinh, ngài Thiện Phước – Mẫu Trầu (1924 – 1986) đã sáng lập phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, chuyên tu niệm Nam-mô A-di-đà Phật để về quê cũ.
– Khoảng năm 1960, ngài Huỳnh Minh (1916 – 1963) lập đoàn Khất Sĩ Sơn Lâm, chủ trương ở núi non hơn là nhập thế, hoạt động tương đối yếu.
– Năm 1963, sau khoảng 20 năm xuất gia khổ hạnh theo Phật giáo, ông đạo Nguyễn Thành Nam (1910 – 1990) về Cồn Phụng – Bến Tre phổ biến lối tu của mình với thế gian, lấy hiệu là Thích Hòa Bình, xưng là Nhơn Thiên Giáo chủ, chủ trương hòa đồng mọi tôn giáo. Tại đó ông được nhiều người kính ngưỡng, lập nên chùa Nam Quốc Phật vang tiếng một thời, hiển nhiên thành một mối đạo được dân gian gọi là Đạo Dừa. Trong dòng chảy của lịch sử Việt Nam thời hiện đại, Đạo Dừa đã nhất thời để lại một dấu ấn mà chúng ta không thể không nhắc đến.
– Năm 1972, Thượng tọa Giác Huệ (1935 – 1995) lập Giáo đoàn Khất Sĩ Ca-diếp, sau đó vận động xin lập giáo hội mà chưa được.
…
Phạm vi của bài viết này chỉ chú trọng đến các đoàn thể Khất sĩ ở Việt Nam, ngoài hệ thống Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam của đức Tổ sư Minh Đăng Quang. Để thuận tiện tìm hiểu, theo dòng thời gian chúng ta sẽ lần lượt khảo cứu đoàn thể của Đại sư Huệ Nhựt, rồi đến các đoàn thể Khất sĩ Sơn Lâm, Khất sĩ Mẫu Trầu[1], Khất sĩ thuộc giáo hội của ông Đoàn Trung Còn, Khất sĩ Ca-diếp…
II. KHẤT SĨ BẮC TÔNG
Ra đời kế trước Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam của đức Tổ sư Minh Đăng Quang là nhóm của Đại sư Huệ Nhựt. Đoàn thể tu sĩ này không lớn, không có thành lập giáo hội, không có thiết lập những cơ sở giáo lý và giới luật biệt truyền cùng cơ sở hạ tầng để đủ điều kiện trở thành một tông phái Phật giáo.

Đại sư Huệ Nhựt, 1903 – 1951, người ở tỉnh Bình Thuận.
Hình in trong quyển Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn, tái bản năm 2004.
Đại sư Huệ Nhựt thế danh là Hồ Cang, hiệu là Chí Thạnh, sinh năm 1903 tại ấp Long Điền, xã Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Ngài là con trai út trong một gia đình có 5 anh em. Thân phụ ngài là cụ ông Hồ Thời và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Thân pháp danh Diệu Chánh, vốn được xem là một gia đình Phật tử thuần thành.
Từ nhỏ, ngài được song thân cho thọ học cùng với cụ nghè Trương Gia Mô, một chí sĩ yêu nước có đầu óc canh tân, đang an dưỡng tại làng Hàm Thạnh, xã Chí Công, tỉnh Bình Thuận. Năm 18 tuổi, với phong trào hoạt động của nhóm Duy Tân ủng hộ tư tưởng cụ Phan Bội Châu, cụ nghè Trương Gia Mô đã vận động ngài đi theo Tây học. Do ảnh hưởng phong trào Duy Tân tại trường Dục Thanh – Phan Thiết, ngài từ giã quê hương đi vào Sài Gòn lập nghiệp và sinh sống tại tổng Bình Trị Thượng, xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.
Năm 1924, theo ý muốn song thân, ngài lập gia thất và hạ sanh được 2 người con. Năm 1936, vợ và con trai bị bệnh mất, ngài đưa người con gái út mới vừa tròn 4 tuổi lên núi Bà Đen ở Tây Ninh đồng xin xuất gia thọ giáo với hòa thượng Nguyên Cơ Giác Phú thuộc dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán đời thứ 43. Vì ngài là trưởng tử của hòa thượng Nguyên Cơ Giác Phú, vị kế nhiệm đại lão hòa thượng Tâm Hòa Chánh Khâm trụ trì Tổ đình Linh Sơn Tiên Thạch Tự, nên được phú pháp là Quảng Thạch, hiệu là Huệ Nhựt, và được ân sư truyền trao giới pháp Tam đàn Cụ túc vào khóa Hạ của Tổ đình năm Đinh Sửu 1937.
Ngày mùng 10 tháng Chạp năm Đinh Sửu, khi xong khóa Hạ, sắp xếp lại công tác tổ chức của Tổ đình và đồ chúng, hòa thượng Giác Phú thị tịch sau 11 tháng kế nhiệm trụ trì, ngôi Tổ đình Linh Sơn rơi vào tình trạng biến động một cách trầm trọng. Sau một thời gian ở lại cư tang thầy, cùng trong năm ngài xuống núi trở về Gò Vấp ở tại nhà cũ tu học và hành đạo.
Cuối năm 1938, với phong thái và đạo tâm đầy khả kính, đồng thời cảm nhận đến thời cuộc đạo pháp suy vi cần phải thể hiện chân lý đức Phật, ngài đã quyết định chuyển y thực hiện hạnh y bát khất sĩ, lấy phương châm Ngọn đèn không tim tỏa sáng nhà Phật giáo truyền và Thích-ca chánh tông làm tôn chỉ hoằng pháp. Cũng từ đó, nơi ngài ở trở thành Linh Bửu Tự, lấy chữ đầu của chùa Tổ là Linh Sơn Tiên Thạch Tự làm chữ đầu cho tất cả các ngôi đạo tràng do ngài và các hàng đệ tử khai sáng về sau.
Cảm mến giới hạnh của ngài, vào năm 1942, Phật tử Quảng Canh đã cung thỉnh ngài về trụ trì chùa Vạn Thọ ở Tân Định. Năm 1948, ngài đã cho xuất bản quyển Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn làm phương pháp tu học cho các hàng đồ chúng và đồng bào Phật tử. Với hạnh y bát khất thực trì bình muôn nẻo, dần dần một đoàn khất sĩ được hình thành, bên Tăng có 11 vị: ngài Phổ Khai, Phổ Hỷ, Phổ Thượng, Phổ Ứng, Phổ Giác, Phổ Quốc, Phổ Hiến, Phổ Hạnh, Phổ Thông, Phổ Thịnh và Phổ Tĩnh; phía Ni gồm 10 vị là Ni trưởng Diệu Nghĩa, Diệu Lượng, Diệu Nhẫn, Diệu Hảo, Diệu Tú, Diệu Lý, Diệu Tường, Diệu Khiết, Diệu Thiệt và Từ Tri. Cùng thời gian này, ngài cũng đã tiến hành trùng tu lại ngôi chùa Vạn Thọ, đồ chúng Phật tử tìm đến quy y tu học rất đông đảo.
Năm Canh Dần, vào một ngày cuối năm, từ chùa Vạn Thọ ngài trở về chùa Linh Bửu để chỉ đạo việc trùng tu. Khoảng 11 giờ ngày 10 tháng Chạp năm Canh Dần, nhằm ngày 17 tháng 1 năm 1951, đúng vào ngày húy kỵ của Hòa thượng bổn sư, ngài đã bị một nhóm phần tử quá khích bắn chết. Một năm sau khi ngài viên tịch, 5 vị được đề cử trông nom chùa Linh Bửu cũng bị mất tích không rõ nguyên do. Giáo đoàn tựa như con thuyền không người chèo lái khi đứng giữa phong ba bão táp chông chênh, các vị đệ tử còn lại phải tìm về Vũng Tàu, chọn chùa Phước Lâm ở Bến Đình làm nơi tu học, nối tiếp chí nguyện Tổ sư…
Trên đây là những điều Hòa thượng Từ Giang - Viện chủ Tịnh xá Linh Quang ở quận 4, TP. Hồ Chí Minh đã ghi trong bài Lược sử Đại sư Huệ Nhựt nơi đầu sách Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn, tái bản năm 2004. Chúng tôi đã sửa vài chỗ cho hợp lý: bỏ thông tin ngài Huệ Nhựt theo học với Hòa thượng Liễu Quang của Thiên Thai Thiền Giáo Tông (Bên Thiên Thai Thiền Giáo Tông của Tổ Huệ Đăng ở Bà Rịa đâu có Hòa thượng nào là Liễu Quang; còn mang chữ Liễu lại thuộc về Thiên Thai Giáo Quán Tông ở Long An, nhưng trong 7 vị chữ Liễu cũng không có ai là Liễu Quang), sửa Ất Tỵ thành Canh Dần để đúng với năm 1950 và bổ sung lịch Tây…

Với quyển sách này, Đại sư Huệ Nhựt đã lưu truyền hậu thế những giác ngộ cao siêu của ngài
Đây là mục lục các bài pháp trong quyển Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn:
1. Chơn ngôn
2. Tế thượng chánh tông
3. Phép trừ tà đạo hóa nhơn tâm
4. Tỉnh hồn
5. Giúp tà quy chánh kiến
6. Mê giác yếu ngôn
7. Mê giác cần phải nhớ
8. Độ tận nhân ngã tướng kiến tánh thành Phật
9. Vô nhơn ngã tướng
10. Tịnh độ yếu lý
11. Yếu ngôn
12. Niệm Phật cần phải biết
13. Nói về phép Niệm Phật tam-muội và lý Thiền định, Tịnh độ
14. Tự luận giải
15. Pháp ấn tâm thế nào
16. Sao gọi là Như Lai
17. Lý đạo
18. Chơn giả không thật
19. Tự giác giác tha
20. Vài điều chánh ngữ
21. Minh tâm kiến tánh pháp
22. Đức Di-lặc
23. Giới định tuệ
24. Bài tụng vô tướng
25. Ngũ giới cấm
26. Vô vi pháp
27. Tâm yếu
28. Sám tâm kinh
29. Sám hối
30. Lời cần yếu
31. Cách tụng niệm mỗi ngày
32. Phép tắc tụng kinh
33. Phép tắc trì chú Chuẩn Đề
34. Lời khuyên nhủ
35. Phép tắc niệm hương
36. Phép tắc thiền định
37. Nam-mô A-di-đà Phật
38. Phép tắc tọa thiền niệm Phật
39. Ngũ giới hương
40. Kệ văn
41. Phép tắc thường dùng
42. Sám ca cầu hồn
Hầu hết các bài trong sách này đều ngắn gọn mà ý tứ rất chân chánh. 42 bài chỉ dài có 135 trang A5, bài ngắn nhất chỉ có 8 câu ngũ ngôn; bài dài nhất văn xuôi, khoảng 7 trang. Ví dụ bài kệ cuối bài Giúp Tà Quy Chánh Kiến rất chí lý:
Kệ rằng:
Thấy đạo mới làm đạo,
Không thấy, biết chi làm!
“Phật Đạo” vốn không không,
Không không làm chỗ nào?
Thấy nhiều người làm đạo
Bươi lửa kiếm bọt bào
Xem như hình nộm giấy
Đứt dây hết múa nhào!
Hoặc lời tựa sách của Đại sư Huệ Nhựt có những đoạn tự bạch rất thú vị:
PHÁP MÔN ĐÁO BỈ NGẠN
Tiểu Tựa
Chốn tịch tịnh bần Tăng vừa tỉnh giấc chiêm bao, thì chiến tranh cũng đà mới vừa giải tán. Xem xét lại là ngày 7 tháng 7 năm Ất Dậu, năm 1945 Dương lịch. Bởi trong nước cuộc trị an còn đang ly loạn nên tà chánh đều phải lầm than vương mang nạn đau khổ, khó toan tránh khỏi! Đó là nhơn quả báo ứng, lẽ tự nhiên; nhưng lòng từ bi của chư Phật rất chứa chan thương xót! Vì vậy mà bần Tăng (Huệ Nhựt là tôi) kính làm lời tựa này, nguyện khắp mười phương ba cõi Thánh, Phàm, Nhơn, Thiên chứng nhất biện hương này “nhuận khắp” chúng hữu tình mau tỉnh ngộ, không lòng nhơn ngã, phải quấy có không, đồng đăng bỉ ngạn, thoát khỏi u đồ, tiêu diêu tự tại, chứng tâm nhẫn vô sanh, không còn đọa lạc vào trong sáu đạo nữa.
Bần Tăng thệ nguyện như vậy rồi, vừa nhớ lại mình không có một chút phép chi cho đặng mà độ người tỉnh ngộ, nên lấy làm ái ngại lòng tôi!
Cũng may, bỗng không tôi liền nhớ lại ngôi Tam Bảo của ta có đủ sẵn sàng không thiếu vật chi, ta cần gì tầm kiếm nữa. Vì tôi có nghe chư Phật ba đời truyền dạy, kể rằng: “Chớ làm các điều ác, nên làm các điều lành, trau dồi tâm ý sạch, chư Phật đã dạy rành”; và gìn giữ Tam quy Ngũ giới làm điều cần yếu…
…Cổ nhân xưa có nói rằng: Muôn vật cao lớn đến chốn hư không là tột, trăm sông ngàn rạch chảy đến biển cả là cùng, tất cả giáo pháp luận đến cái tâm là tột, hết thảy Thánh Hiền đến quả vị Phật là cùng! Nói đến chỗ không nói mới thật là nói. Làm đến chỗ không làm mới thật là làm. Mười phương chư Phật thuyết pháp lợi sanh cũng chẳng ngoài cái lý Vô sanh Vô trụ đó.
…Nếu ai rõ thấu quyển Kinh Vô Vi lớn nhất(1) của Phật có đủ sẵn sàng không thiếu vật chi thì chẳng cần nói cũng chẳng cần làm, mà tự nhiên có nói có làm đủ cả.
Như ai không biết, muốn nói muốn làm phải nhớ kệ rằng:
TẤT CẢ PHÉP “CÓ LÀM”(2)
NHƯ CHIÊM BAO BỌT BÓNG,
CŨNG NHƯ SƯƠNG NHƯ CHỚP!
MUỐN LÀM GỌI NHƯ VẬY.
CÓ HÌNH TẤT CÓ HOẠI
ƯA MUỐN NHIỀU TAI HẠI!
BIẾT RÕ NGHĨA NHƯ LAI
MỚI RẰNG MÌNH LÀM ĐẠO!Huệ Nhựt đại sư
_________________
(1) Quyển Kinh Vô Vi lớn nhất là: dùng hư không làm giấy, lấy núi Tu-di làm viết, dùng nước đại hải làm mực, lấy chúng sanh làm chữ nghĩa, mượn tánh hay biết làm ông chủ thuyết kinh…
(2) Phép “có làm” nghĩa là: làm ăn làm nói, làm người làm ta, làm đi đứng nằm ngồi, làm thấy nghe hay biết, làm sự làm vật, làm có làm không v.v…

Tượng Đại sư Huệ Nhựt thờ tại tháp ở Tịnh xá Linh Quang,
đường Nguyễn Khoái, Q.4, TP. Hồ Chí Minh
(Tượng trang nghiêm, rất đẹp, toàn khối cao gần 7 tấc, nhưng trông không giống lắm)
Theo lời tựa trên, ta biết được rằng Đại sư Huệ Nhựt đã “tỉnh giấc chiêm bao” – đã giác ngộ – hay liễu đạo vào ngày 7 tháng 7 năm Ất Dậu 1945. Chắc rằng rất nhiều người đọc lời tựa sách đã không chú ý đến thông tin này.
Trong sự giác ngộ đó, ngài đã khởi lên bi tâm hướng về khắp chúng sanh hữu tình Thánh phàm, rồi chợt “nhớ lại mình không có một chút phép chi cho đặng mà độ người tỉnh ngộ, nên lấy làm ái ngại lòng tôi!”. Như vậy, chỗ giác ngộ của ngài là triệt để, không còn một chút gì phàm tình và Thánh giải, thật xứng đáng là Đại sư!
Tuy tâm ngài không có gì, nhưng khi cần thì “Ngôi Tam Bảo của ta có đủ sẵn sàng không thiếu vật chi, ta cần gì tầm kiếm nữa.”, và ngài đã ứng theo đó viết sách Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn này để chỉ dẫn đệ tử những cách thức tu tập và sinh hoạt trong đạo hàng ngày.

Tro cốt nhục thân Đại sư Huệ Nhựt thờ tại tháp ở Linh Quang tịnh xá.
Hủ cốt bên trái là của Hòa thượng Phổ Ứng, đã bị kẻ trộm lấy mất gần đây.
Lưu ý hàng chữ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG.
Xét quyển Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn, không thấy tác giả tuyên bố lập phái và cũng không quy định những phép tắc sinh hoạt như xuất gia, thọ giới, y bát, xây cất cơ sở, tổ chức đoàn thể… Nội dung của quyển Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn chính là các pháp học thường thấy trong Phật giáo Bắc tông Việt Nam từ thời cận đại đến nay như Tam quy Ngũ giới, những câu chú Tỳ-ni và Thập chú, những bài chú Đại Bi, Vãng Sanh; lý Thiền định và Tịnh độ, cách tọa thiền đếm hơi thở và niệm Phật, những bài sám, cách niệm hương, Giới Định Huệ, Ngũ giới hương... Đây là một nền Phật học tổng hợp của Thiền, Tịnh, Luật, Mật và Giáo, không còn biệt truyền như xưa nữa. Qua tâm giác ngộ của đại sư, các pháp môn ấy đều được sử dụng đúng mức như những con thuyền đưa chúng sanh qua bờ bên kia; mà nếu cần xếp vào tông phái, thì ngài gọi chung các pháp ấy là Thích-ca chánh tông.
Ngay nơi bìa sách cũ, ta được biết: Pháp môn Đáo bỉ ngạn được định nghĩa là “Cái cửa phép mầu nhiệm đến Bờ kia”. Sách này được viết bởi Huệ Nhựt đại sư (tác giả tự xưng) vào năm 1948 tại Linh Bửu Tự ở Cầu Hang, quận Gò Vấp. Vào sách, cuối bài thứ hai là Tế Thượng Chánh Tông có ghi thông tin: “1945 – Phật pháp ra đời ngày rằm tháng 7 năm Ất Dậu.”. Như vậy vào năm 1945 Đại sư Huệ Nhựt đã khởi viết sách này, sau khi ngài giác ngộ, làm cho Phật pháp đã ra đời. (Theo như trong Tiểu Tựa, thì có lẽ lúc đầu bài Tế Thượng Chánh Tông có tựa là Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn bằng văn vần phổ thông đó chăng?)

Chư Tăng đệ tử Đại sư Huệ Nhựt
(Hình in trong Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn. Đứng đầu là sư Phổ Giác)
Đại sư Huệ Nhựt chính thức hoằng đạo chỉ trong vòng 5 năm (1945 – 1950), đệ tử thâu nhận có 2 bộ chúng Tăng, Ni nhưng không mạnh, lại bị suy vi thêm sau khi ngài tịch diệt, cơ sở chỉ cất được 1 cái là Linh Bửu Tự ở Gò Vấp nhưng cũng đã mất. Nổi bật trong sự hoằng pháp của Đại sư Huệ Nhựt là hình ảnh đoàn Khất sĩ y bát chống tích trượng đi hóa duyên mỗi ngày. Đến đời sau, vì muốn bảo tồn sự đặc sắc đó đã xưng là phái Khất sĩ Đại thừa Việt Nam, và hiện nay đã đổi là phái Khất sĩ Bắc tông Việt Nam. Sự xưng hô đó mang tính nội bộ, xét ra có mấy chỗ bất nhất: không còn chống tích trượng đi hóa duyên nữa, trong tiểu sử của Đại sư Huệ Nhựt vẫn ghi là “thuộc dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán”, còn trong tháp thờ ngài lại ghi là “Lâm Tế Chánh Tông”[2].

Chư Ni đệ tử Đại sư Huệ Nhựt
(Hình in trong Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn. Đứng đầu là sư cô Diệu Tú)
Thật ra, ở Việt Nam, từ giữa thế kỷ XX đã có nhiều bậc Tôn túc ở Huế, ở Bình Dương, Nha Trang, Sài Gòn… chủ trương phục hồi y bát chân truyền của Phật Thích-ca như quý Hòa thượng Minh Châu, Minh Tịnh, Đổng Minh, Thiện Chiếu... đã làm. Nếu quý ngài này chỉ mới làm được ở mức độ cá nhân, tuy bên trong giáo hội đã từng diễn ra một vài cuộc vận động lớn[3], thì thầy trò Đại sư Huệ Nhựt đã đồng bộ làm được như thế qua 3, 4 đời. Tóm lại, phục hồi y bát chân truyền như Phật Thích-ca thuở xưa là công đức lớn mà Đại sư Huệ Nhựt và các đời kế thừa đã làm được. Đây là điều đặc sắc mà lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ trân trọng ghi nhận.
Trong mục này, chúng tôi đặt tiêu đề là “Khất sĩ Bắc tông” chỉ với một ý: Đại sư Huệ Nhựt cùng các đệ tử và quý Hòa thượng Minh Châu, Minh Tịnh, Đổng Minh, Thiện Chiếu... của khối Phật giáo Bắc tông Việt Nam đã cố gắng phục hồi y bát chân truyền như Phật Thích-ca thuở xưa. Việc này chỉ dừng lại ở hình thức y bát.
III. KHẤT SĨ SƠN LÂM
Khất Sĩ Sơn Lâm là đoàn Khất sĩ do ngài Huỳnh Minh sáng lập tại miền Nam Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 1960. Nguồn gốc của đoàn thể này tuy có phần liên quan đến Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam của đức Tổ sư Minh Đăng Quang, nhưng trong sự tu tập hành đạo thì có xen tạp các thuật tu núi tu non. Điển hình là 2 vị Minh Kiên, Minh Đạo đã từng bị tai tiếng…

Sư Huỳnh Minh, 1916 – 1963 quy ẩn, hình thờ tại TX. Phụng Hoàng ở Cần Đước
(Mắt phải bị hư, tướng ốm nhỏ,
có một nhánh lá trên bàn thờ in bóng vào hình, ngay chỗ cổ…)
Sáng lập đoàn thể này là sư Huỳnh Minh. Sư Huỳnh Minh có thế danh là Trương Văn Thạnh, sinh năm Bính Thìn 1916 tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Ông là con thứ 10 trong một gia đình có 12 người con. Vào năm 1934, lúc 18 tuổi ông đã lập gia đình, sinh được 4 con. Đến sau năm 1950, khi Tổ sư Minh Đăng Quang đã thành lập Đạo Phật Khất Sĩ, ông đến Thốt Nốt gặp Tổ sư xin xuất gia giải thoát theo gương hạnh Khất sĩ. Thấy nhân duyên xuất gia của ông chưa đủ, Tổ sư đã khuyên ông nên về trường chay tu niệm. Sau khi Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng mấy năm, trong một dịp ông đã đến gặp trưởng lão Giác Nhơn ở Núi Đất… và vào đầu thập niên 1960 bắt đầu nhận đệ tử, hình thành nên một đoàn Khất sĩ ở miền Nam với nhân số khoảng 20 vị sư. Đến năm 1963 sư Huỳnh Minh đã quy ẩn, để các đệ tử tự do hành đạo.

Nhận định “5 phái Khất Sĩ” của sách này không đúng với lịch sử
Trong quyển Tìm Hiểu Phật Giáo Khất Sĩ Ở Nam Bộ Việt Nam (trong thế kỷ XX) của thầy Hạnh Thành, do Nhà xuất bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007, có thêm những thông tin sau:
– Sư Huỳnh Minh có tâm nguyện sau khi lập được một tiểu giáo hội thì sẽ quy ẩn. Tâm nguyện đó đến cuối năm 1963 đã thành tựu, và hơn 20 vị đệ tử đó là quý sư Minh Hải, Minh Đức, Minh Ngọc, Minh Đại, Minh Giác, Minh Khôi, Minh Trí, Minh Nhật, Minh Nguyệt, Minh Thông, Minh Đạo, Minh Hùng, Minh Lực, Minh Thành, Minh Công, Minh Tâm, Minh Lý, Minh Huệ, Minh Tài, Minh Pháp và Minh Hòa.[4]
– Năm 1960, sư Huỳnh Minh cùng các đệ tử đã xây dựng Tịnh xá Phụng Hoàng tại quê nhà ở Cần Đước, Long An.[5]

Tịnh xá Phụng Hoàng, ở ấp Chợ, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
– Sau khi sư Huỳnh Minh đã quy ẩn, các đệ tử của ngài đùm bọc nhau lo tu tập và hành đạo, xưng là Đoàn Khất Sĩ Sơn Lâm.[6]
– Từ năm 1975, đã xảy ra những sự bắt bớ của chính quyền, Đoàn Khất Sĩ Sơn Lâm tưởng chừng đã tan rã.
– Khoảng năm 1980, Đoàn Khất Sĩ Sơn Lâm được Thượng tọa Minh Hùng hướng dẫn về nương vào Giáo đoàn Khất Sĩ Ca-diếp của Thượng tọa Giác Huệ.[7]
– Đến năm 1984, hai Thượng tọa Minh Hùng và Minh Nhi đã về Núi Dinh khai sơn Tịnh xá Ngọc Sơn Dinh, mở rộng sự tiếp Tăng độ chúng. Từ đó, Đoàn Khất Sĩ Sơn Lâm bắt đầu ổn định và đã hòa nhập vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam sinh hoạt cho đến ngày nay, còn Tịnh xá Ngọc Sơn Dinh đã trở thành trụ sở chính.
– Ngoài 2 tịnh xá Phụng Hoàng và Ngọc Sơn Dinh, đoàn Khất Sĩ Sơn Lâm hiện chỉ còn thêm 3, 4 cơ sở nữa.

Cổng tam quan Tịnh xá Ngọc Sơn Dinh mới trùng tu lại năm 2007
Dưới hàng chữ đỏ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM là hàng chữ xanh
GIÁO ĐOÀN SƠN TĂNG KHẤT SĨ
Trong thời buổi có nhiều đoàn Khất sĩ được thành lập, Đoàn Khất Sĩ Sơn Lâm cũng đã ra đời, hoạt động chủ yếu ở những vùng sơn đảo Tây Nam Bộ. Trải qua mấy độ thăng trầm, hiện nay đoàn thể này đã sinh hoạt ổn định trong giáo hội Phật giáo Việt Nam tại một số địa phương.
IV. NHÓM KHẤT SĨ MẪU TRẦU
Khất sĩ Mẫu Trầu là lời gọi không chính thức, đoàn thể này có danh hiệu là Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng. Hiện nay, theo ngài Giác Quang ở Tu viện Quan Âm – Biên Hòa cho biết, phái này có hơn 140 cơ sở với rất nhiều tu sĩ.
Nói về Mẫu Trầu, ngài có thế danh là Lê Minh Ý, sinh năm 1924 tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Năm 19 tuổi ngài đã lập gia thất với cô Võ Thị Hầu người cùng địa phương. Năm 1945 ngài tham gia Cách mạng và đã đổi tên là Lê Văn Mười. Năm 1954 ngài bị địch truy nã gắt gao nên đã trốn về miền Tây, nhân duyên đưa đến chùa Bửu Quang ở Núi Dài, ngài theo học đạo luôn với Sư ông Bửu Đức, có pháp danh là Thiện Phước, hiệu Mẫu Trầu, Mẹ Trầu, hay Má, Thầy Mẹ… như một hiện thân của Mẫu.
Cuộc đời tu hành của ngài Thiện Phước rất đa dạng: Ban đầu, năm 1955 ngài học đạo với ông Ba ở chùa Bửu Quang trên Núi Dài – Thất Sơn trong 8 tháng. Sau này lập phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng ngài đã suy tôn ông Ba làm Chứng minh Đạo sư của tông phái, đạo hiệu là Sư ông Bửu Đức. Đến năm 1956, ngài đã về quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) y chỉ theo hòa thượng Trí Châu trụ trì chùa Long Sơn Cổ Tự, được đặt pháp hiệu là Nhựt Ý, thuộc đời 41 dòng Lâm Tế Gia Phổ. Tại đó ngài có rất nhiều tín đồ, bị chính quyền thường xuyên theo dõi và cuối cùng đã trục xuất ngài ra khỏi địa phận tỉnh. Năm 1957, bổn đạo đưa ngài ra Núi Dinh ẩn cư, ở đó ngài được giao chùa Linh Sơn Cổ Tự. Tại Linh Sơn Cổ Tự ngài thành lập phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, chuyên tu niệm Nam-mô A-di-đà Phật với các pháp Lễ bái niệm Phật, Phát nguyện niệm Phật và mỗi năm đều tổ chức một pháp hội niệm Phật trăm ngày đêm không nghỉ (Bá nhật trì danh). Phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng bấy giờ nương vào Giáo hội Tịnh Độ Tông Việt Nam của ngài Đoàn Trung Còn hoạt động. Từ năm 1962 ngài Thiện Phước đã phát nguyện hành pháp y Khất sĩ của tam thế chư Phật cho đến trọn đời.

Ngài Thiện Phước đang an tọa trang nghiêm, tay cầm một hoa sen (có phải là Bửu ấn?)
Y theo ngài Thiện Phước, nhiều đệ tử của ngài đã phát nguyện hành pháp y Khất sĩ, còn một số đông vẫn sử dụng pháp y của Phật giáo Bắc tông. Với pháp tướng Khất sĩ của tam thế chư Phật, nhiều người cho rằng đây là một phái Khất sĩ. Thực tế thì các vị ấy là một nhóm thuộc phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng của ngài Thiện Phước. Hiện nay, phái này do ngài Huệ Giác (nữ) làm Tông trưởng, được mọi người kính gọi là Ông Lục.

Hòa thượng Thiện Hào và ngài Thiện Phước đang hỏi thăm nhau
(Ảnh trưng bày tại Tu viện Quan Âm – Biên Hòa)
Người được tôn kính là bậc thầy chính của ngài Mẫu Trầu là Sư ông Bửu Đức, một đạo nhân ở vùng Thất Sơn huyền bí. Theo quyển 100 Ngày Niệm Phật và 100 Bài Pháp tập 2 của ngài Giác Quang ở Quan Âm Tu Viện, do Nxb. Phương Đông xuất bản năm 2011, đọc từ trang 379 – 419 ta được biết:
– Sư Ông Bửu Đức có tục danh là Phạm Văn Vị, sinh năm Canh Thìn 1880 tại làng Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; là người con thứ Ba trong gia đình. Khi trưởng thành ông đã lập gia đình và sống tại gia tập thiện theo gương của bà con bổn đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa trong vùng. Đến năm 1925, do ơn trên kêu gọi, ông đã phát nguyện tu hành, tự cạo tóc rồi về Rạch Giá cùng tu với người bạn đời. Năm 1940 ông qua núi Tà-lơn tu. Năm 1944 ông về lại Việt Nam đến An Sơn Tự ở vùng Núi Tượng – Ba Chúc cầu tu với ông Ba Khỏe của phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa.
Năm 1945 ông lên lưng chừng Núi Dài (Ngọa Long Sơn) cất chùa Bửu Quang bằng tranh lá đơn sơ và tịnh tu tại đấy, xưng là “Ông già Thất nghiệp”. Năm 1949 chùa Bửu Quang bị giặc Pháp đốt cháy, nhưng ông vẫn không xuống núi, ở đó cất lại chùa tiếp tục tu hành. Đến năm 1959, chế độ Ngô Đình Diệm cho lập Khu trù mật rải rác trong miền Nam để tập trung dân vào ở, chính quyền đã bắt buộc ông phải dời chùa xuống chân núi. Tại đó ông và huynh đệ đã nuôi giấu quân Cách mạng, nên chùa bị quân Quốc gia bắn phá đốt cháy vào năm 1963. Bấy giờ chùa Bửu Quang phải dời về sau chợ Ba Chúc, cất lại khang trang hơn, bằng gỗ, lợp lá. Năm Mậu Thân 1968, một lần nữa chùa lại bị đốt cháy vì chiến tranh. Qua năm sau, các đệ tử của Sư Ông đã về Núi Sập cất chùa Thành An Tự trên đỉnh núi, rồi thỉnh Sư Ông về đấy an cư cho đến khi viên tịch vào ngày 18 tháng Chạp năm Giáp Dần, nhằm ngày 29/1/1975.
Sau Giải phóng, các đệ tử của Sư Ông Bửu Đức đã về Ba Chúc cất lại chùa Bửu Quang. Nhưng vào năm 1979, giặc Miên tràn sang tàn phá Ba Chúc, giết hại dân lành, chùa lại bị đốt phá lần thứ tư, ông Sáu Muôn đệ tử của Sư Ông cũng bị chết tại đây…[8]

Sư Ông Bửu Đức, 1880 – 1975, trụ thế 95 năm.
Sư Ông có các đệ tử như ông Sáu Muôn, ông Ba Bồ-đề, ngài Mẫu Trầu…
Còn xem trên trang phatgiaovnn.com, ta được biết sinh thời Sư ông Bửu Đức hết lòng niệm Phật: “Đêm đêm nhơn sinh đều ngủ, say sưa trong giấc nồng. Ta thức, thức thật tỉnh táo trong đêm trường, lo toan niệm Nam-mô A-di-đà Phật để sớm về quê cũ.”. Ngài đã từng dạy bảo các đệ tử: “Các ông muốn tu theo pháp hạnh Khất sĩ của ba đời chư Phật phải học Chơn Lý Đại Đồng, cầu học đạo với ngài Minh Đăng Quang; còn muốn tu pháp môn niệm Phật thì cầu học đạo với Mẫu Trầu”. Và: “Sau khi tôi đi về với Tổ Phật, pháp môn duy nhất này giao lại cho Mẫu Trầu, người có khả năng kế thừa hoằng truyền tại miền Đông. Pháp môn niệm Phật sẽ được tỏ rạng là do Mẫu Trầu, từ đó về sau tiếp tục kế thế, đừng để mất mát Pháp môn cực tắt của chư Phật.”…
Trong lời dặn dò của Sư ông Bửu Đức: “Các ông muốn tu theo pháp hạnh Khất sĩ của ba đời chư Phật phải học Chơn Lý Đại Đồng, cầu học đạo với ngài Minh Đăng Quang;”, có thể nhận thấy ngài rất kính trọng và biết rõ sứ mạng của đức Minh Đăng Quang.
Những lời dạy được phổ biến của Sư ông Bửu Đức thật chân chánh. Hạnh mang pháp y Khất sĩ của tam thế chư Phật và tu niệm Phật miên mật của ngài Thiện Phước thật đáng quý. Tuy vậy, một tu sĩ nam mà có những tên gọi Mẫu Trầu, Mẹ Trầu, Má, Thầy Mẹ… và một tu sĩ nữ lại được gọi là Ông Lục thật không phải là truyền thống của Phật giáo. Bên trong phái này còn có những sinh hoạt như thế nào hiện chúng tôi chưa biết, nên không tiện nhận định ở đây.
V. KHẤT SĨ THUỘC GIÁO HỘI CỦA ÔNG ĐOÀN TRUNG CÒN
Học giả Đoàn Trung Còn hay Tỳ-kheo Thích Hồng Tại sinh năm 1908, mất năm 1988, người ở thành phố Vũng Tàu, sống và làm việc tại thành phố Sài Gòn (sau 1975 là Thành phố Hồ Chí Minh). Theo Phúc Trung – Huỳnh Ái Tông, trọn một đời hoạt động trên lĩnh vực văn hóa Phật giáo, Tỳ-kheo Thích Hồng Tại – học giả Đoàn Trung Còn đã thành lập 3 nhà xuất bản:
– Nhà xuất bản Phật Học Tòng Thơ, xuất bản những kinh sách Phật giáo do tác giả Đoàn Trung Còn sáng tác, soạn dịch.
– Nhà xuất bản Phật Học Thơ Xã, xuất bản những kinh sách Phật giáo do các tác giả khác sáng tác, soạn dịch.
– Nhà xuất bản Trí Đức Tòng Thơ, xuất bản những sách Khổng giáo hay Hán văn.
Năm 1931, ông Đoàn Trung Còn bắt đầu soạn dịch và sáng tác nhiều sách có giá trị. Năm 1934, ông Đoàn Trung Còn đã xuất bản tác phẩm Tăng Đồ Nhà Phật, quyển thứ 9 trong loạt sách Phật học của ông. Đây là quyển Luật Phật giáo đầu tiên bằng tiếng Việt hiện đại. Quyển này được nhiều nhà trí thức đương thời ở Việt Nam như bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, ngài Minh Tịnh ở Búng – Thủ Dầu Một… ca ngợi. Những lời khen đó đã được trích đăng đầu sách khi tái bản lần thứ II vào năm 1935. Quyển Tăng Đồ Nhà Phật do ông Đoàn Trung Còn biên soạn từ nhiều nguồn, chứ không đơn thuần chỉ y cứ vào Tứ Phần Luật của 2 ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm phiên dịch Phạn – Hán vào đầu thế kỷ V tại Trung Quốc, cho đến cũng không sử dụng thuần một nguồn kinh điển Phật giáo Hán tạng.
Tổng quan
• 01/10/2014, 06:48
Hình ảnh của hai bậc tiền bối, một lần nữa khẳng định chân lý của Phật giáo luôn là chiếc cầu nối vĩnh cửu để nhân loại nói riêng, chúng sanh nói chung thoát ra khỏi tam giới, bởi vì vòng sinh tử tuy dài nhưng không phải là không có điểm kết thúc,...
Tổng quan
• 01/10/2014, 06:48
Nội dung ấy thường được gọi là các pháp làm cho giáo pháp được cường thịnh – yếu tố căn bản làm nên tinh thần của một tổ chức Phật giáo, tạo nên sức mạnh của Giáo hội. Thiếu yếu tố này, tổ chức Phật giáo sẽ không được phát triển, mà còn bị suy giảm.
Tổng quan
• 01/10/2014, 06:48
Danh sách chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái Khất Sĩ tham gia vào HĐCM và HĐTS Giáo hội Phật giáo VN nhiệm kỳ VII (2012 - 2017).Danh sách chư Tôn đức Tăng Ni Hệ phái Khất Sĩ tham gia vào HĐCM và HĐTS Giáo hội Phật giáo VN nhiệm kỳ VII (2012 - 2017).
01/10/2014, 06:48
Hình ảnh của hai bậc tiền bối, một lần nữa khẳng định chân lý của Phật giáo luôn là chiếc cầu nối vĩnh cửu để nhân loại nói riêng, chúng sanh nói chung thoát ra khỏi tam giới, bởi vì vòng sinh tử tuy dài nhưng không phải là không có điểm kết thúc,...
01/10/2014, 06:48
Nội dung ấy thường được gọi là các pháp làm cho giáo pháp được cường thịnh – yếu tố căn bản làm nên tinh thần của một tổ chức Phật giáo, tạo nên sức mạnh của Giáo hội. Thiếu yếu tố này, tổ chức Phật giáo sẽ không được phát triển, mà còn bị suy giảm.
01/10/2014, 06:48
Dòng thời gian trôi qua, nhìn lại bối cảnh Phật giáo miền Nam Việt Nam vào thế kỷ XX, chúng ta nhận thấy trào lưu tư tưởng Khất sĩ đã nảy sinh và đông đảo đoàn thể Khất sĩ đã lần lượt ra đời tại đây.Dòng thời gian trôi qua, nhìn lại bối cảnh Phật giáo miền Nam Việt Nam vào thế kỷ XX, chúng ta nhận thấy trào lưu tư tưởng Khất sĩ đã nảy sinh và đông đảo đoàn thể Khất sĩ đã lần lượt ra đời tại đây.