Chiều 10/10/2025 (19/8/Ất Tỵ), ngày thứ hai của khóa “Sống chung tu học” lần thứ 21 do Ni giới GĐ.III tổ chức tại Tịnh xá Ngọc Nguyên (phường Pleiku, tỉnh Gia Lai), chư hành giả Ni đã được lắng nghe hai thời chia sẻ đặc biệt từ ĐĐ. Giác Ngẫm và ĐĐ. Giác Thống, những vị Đại đức trẻ mang trong mình tâm huyết tiếp nối hạnh nguyện Khất sĩ của chư Tổ.

Theo đó, trong phần trình bày của mình, ĐĐ. Giác Ngẫm đã nhắc nhở về sự nguy hiểm của cái học không đi đôi với hành. Bên cạnh đó, ĐĐ. Giác Thống đã phổ biến đến đại chúng cách giữ chánh niệm trong từng muỗng cơm, để thấy rằng tu học không chỉ nằm ở pháp thoại, mà còn nằm trong từng hơi thở, từng cử chỉ thường nhật.
ĐẠI ĐỨC GIÁC NGẪM
Mở đầu thời pháp, ĐĐ. Giác Ngẫm chia sẻ câu chuyện đầy tính cảnh tỉnh về Tôn giả A Nan và Đại đức Ca Diếp, xem đó là tấm gương soi lại chính mình. Đại đức cho biết, Tôn giả A Nan là người nghe nhiều, nhớ giỏi, hầu hết kinh điển về sau đều do Ngài trùng tuyên. Thế nhưng, khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Đại đức Ca Diếp, vị được Phật trao y bát, nhất quyết không cho A Nan tham gia kết tập kinh tạng, với lý do: “Ông A Nan chỉ học mà không hành, còn tâm cao ngạo, chưa đạt đạo. Nếu để kẻ chưa chứng đọc tụng lời Phật, đời sau sẽ khinh thường cả kinh điển”.

Chính lời khước từ như nhát búa đánh vào tự ái của Tôn giả A Nan, đã giúp Tôn giả thức tỉnh, nhận ra cái học chỉ nằm ngoài miệng, chưa trở thành máu thịt của tâm linh. Đêm đó, Tôn giả A Nan ngồi một mình dưới cội cây, ăn năn, hối hóa và rất sợ sệt, muốn chết vì nghĩ mình không tài gì đắc thánh tâm thanh tịnh nổi, quyết lòng bỏ xác thân, không còn hy vọng.
Tôn giả ngồi nhập định đến gần sáng, lòng tự ái cống cao đã được tiêu trừ sạch, thân tâm nhẹ nhàng thơi thới. Ngài tiếp tục tu tập đến khi mệt mỏi, Ngài nghiêng mình xuống gốc cây, trí tưởng xem như thân thở đã chết đi, nhẹ bẫng trên không trung. Thình lình, Tôn giả A Nan đắc được bốn phép thần (Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Thần túc thông). Bốn phép thần ấy phát sinh ra là do tâm Ngài đã được trong sạch, dứt bỏ trọn vẹn bốn điều thân, thọ, ý, pháp. Sau đó, Ngài ngồi nhập định thêm, dùng năm sức lực của năm căn trong sạch, soi lòng bảy giác, tức thành A-La-Hán, đắc thêm Túc mạng thông và chứng Lậu tận thông, rồi chui qua khe cửa đúng như lời Ca Diếp đã dạy, trở lại trong niềm hoan hỷ của hội chúng.
Từ tích truyện ấy, ĐĐ. Giác Ngẫm kết luận mạnh mẽ: “Học là để tu, không phải học để mà sanh lòng ngạo mạn. Người tu càng học nhiều mà không hành thì tội càng lớn, vì có biết mà không làm”.

Thông qua Chơn lý “Học để tu”, ĐĐ. Giác Ngẫm nhắc lại lời Tổ sư dạy: “Quả Thánh chỉ có ở nơi đứa trẻ sau cơn bị đánh đòn, nghĩa là dứt lòng kiêu mạn thì đắc quả A-La-Hán. Lòng kiêu mạn là chất chứa bẩn dơ. Học chưa chắc đắc đạo, chỉ có hành mới gọi là đắc đạo”.
Khép lại thời pháp của mình, Đại đức khẳng định: “Thông minh không bì với trí huệ. Đại đức Ca Diếp tu về Giới - Định - Huệ, thấu đáo chân lý bằng sự tu hành, tập mình trơ lặng như vũ trụ. Tôn giả A Nan học đâu biết đó, tâm vọng không chân như, đứng ngoài cửa chân như mà lại thêm ỷ mình ngạo mạn. Học của A Nan là đứng ngoài cửa, chỉ nghe mà ghi nhớ, không phải là của mình cất giữ. Đạo Phật là do chỗ hành mà giác ngộ, chứ không phải nơi cái học mà đắc. Người tu cần biết rằng, từ văn học (nghe nói) tiến lên sự học (suy ngẫm), đến hành học (học trong việc làm, biết nơi sự đi) thì mới mong đắc học”.
ĐẠI ĐỨC GIÁC THỐNG
Tiếp nối tinh thần “học để hành”, ĐĐ. Giác Thống bước vào thời pháp thứ hai với một chủ đề rất thiết thực: Luật Nghi (đặc biệt là trong việc ăn uống) và tầm quan trọng của việc duy trì chánh niệm trong môi trường khóa tu. ĐĐ. Giác Thống chỉ rõ: “7 ngày tu học trôi qua rất nhanh, nếu không tận dụng từng khoảnh khắc thì khóa tu sẽ trôi qua như Tôn giả Badali lỡ mất ba tháng an cư. Môi trường sống chung tu học là điều quý báu để thúc liễm và hoàn thiện đời sống tự thân”.

Đi sâu vào luật nghi trong ăn uống, Đại đức chỉ rõ:
- Thọ bát phải có oai nghi – bưng bát chờ mâm, không vội vàng.
- Ngồi bán già, bát đặt sát chân, tay trái ôm bát, tay phải cầm muỗng “không rời”.
- Mỗi muỗng ăn là một niệm – đang nhai thì không múc muỗng khác.
- Không lựa món, không “tím tím tém tém”, không tạo tiếng động.
- Mắt nhìn vào tách nước trước mặt, lấy đó làm nơi trụ tâm.
“Thiền ăn hòa chúng là pháp tu đặc biệt của Khất sĩ, trong đó, mỗi muỗng cơm đều có tình Thầy trò, có sự gắn kết Tăng đoàn. Do vậy, khi ăn hòa chúng, phải để tâm mình là không không. Không nên ngước nhìn vị chứng minh, mà nên tự giữ tâm bình thản. Khi ngồi ăn phải ngồi ngay lưng, đầu hơi khom cuối, mắt ngó xuống ngay tách nước trước mặt cách năm tấc. Lấy ly nước làm chỗ trụ tâm”, Đại đức nhấn mạnh.

Nhắc đến kinh Song tầm trong kinh Trung bộ, ĐĐ. Giác Thống đề cập đến lời dạy của Đức Phật về tiến trình tư duy và phân loại các tầm (vitakka) thành hai nhóm: bất thiện tầm (dục tầm, sân tầm, hại tầm) và thiện tầm (ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm). Theo đó, Đại đức nhấn mạnh: “Khi bất thiện tầm (ví dụ: trái ý nghịch lòng khi sống chung, cảm thấy thiếu thốn, hoặc tâm lý mình là trụ trì/lớn nhất) sanh khởi, phải nỗ lực đoạn trừ; ngược lại, khi thiện tầm sanh khởi, phải duy trì và tu tập. Nếu thiện tầm làm cho tâm dao động hoặc sợ hãi, phải trấn an tâm mình. Trấn an bằng cách biết rằng tư tưởng thiện câu phần với trí tuệ, an lạc, đưa đến Niết-bàn, chứ không phải phiền não”.
Lấy hình ảnh con voi hoang làm thí dụ, Đại đức cho rằng, người mới xuất gia như con voi rừng mới bắt về, những ngày đầu bị cột lại nên khó chịu, không nói chuyện, không tự do, phải ăn chung, phải ngồi thiền lâu. Nhưng nếu vượt qua được, sẽ từ loạn mà trở thành thuần, từ tán tâm mà thành chánh niệm.
Một số hình ảnh được ghi nhận:













