Đây là một đề tài mà chính bản thân người viết đã ấp ủ từ lâu và trăn trở khá nhiều mới dám đặt bút, bởi vì bản thân tác giả không phải là một nhà nghiên cứu hay học giả uyên bác. Nhưng quan sát thực tế, bản thân tôi thấy đây là thời cơ thuận lợi để cho mình “hành đạo” đứng trên quan điểm ôn cố tri tân, so sánh giai đoạn ổn định đất nước sau chiến tranh của các vua nhà Trần với hoàn cảnh đất nước ta hiện nay, trên cơ sở phân tích quan điểm “Cư trần lạc đạo” của Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
Đánh giá hay so sánh một quan điểm cá nhân, một giai đoạn lịch sử đã qua hơn 700 năm dựa trên những sử liệu của các học giả, tất nhiên là đã qua lăng kính chủ quan của người viết. Người tiếp thu và người truyền đạt sẽ không tránh khỏi sự khập khiểng, nhưng chắc chắn nếu tâm chúng ta cùng hướng về ý nguyện “hoằng pháp độ sanh” trong giáo lý Phật Đà thì chúng ta sẽ loại bỏ được tâm phân biệt và đố kỵ về chính kiến chính trị xã hội thì người viết và người đọc sẽ dễ cảm thông nhau.
Trong Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông, chúng ta tìm thấy quan điểm nhập thế hành đạo của nhà vua hết sức là an nhiên tự tại, hợp quy luật của tự nhiên và tâm thức của thiền giả:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc mien
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.”
Dịch:
“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền
Có báu trong nhà thôi tìm kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.”
(Bản dịch của Lê Mạnh Thát)
Ngài còn cho rằng:
“Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm.”
(Hội thứ nhất)
Là một con người dù ở thành thị, gánh vác bao nhiêu việc đời, nhưng cách xử lý các vấn đề của cuộc sống vẫn an nhiên, trong sáng như ở núi rừng. Tư tưởng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống của người Phật tử Việt Nam trong thời nhà Trần, tùy vào thành phần xã hội, tùy vào khả năng mà thể hiện đạo sống của mình:
“Dứt trừ nhân ngã,
Thì ra thực tướng Kim cương.
Dừng hết tham sân,
Mới làu lòng màu viên giác.”
(Hội thứ hai)
So sánh với quan điểm “nhàn” của Nguyễn Công Trứ - nhà thơ, nhà Nho học lỗi lạc ở nước ta, người đã sống thanh bần, an nhiên qua cách sống:
“Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc,
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn”
Cũng như tư tưởng đạo đức của Bác Hồ lúc sinh thời, Người đã từng làm gương, từng khuyên cán bộ và nhân dân ta trong cuộc sống phải biết “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư” đó sao? Dù trong thời chiến hay thời bình, chuẩn mực đạo đức này vẫn không mất đi giá trị của nó. Nhất là trong giai đoạn hiện nay nước ta đang trong thời hòa bình, cơ hội đầu tư tái thiết xây dựng đất nước, cơ hội hội nhập cơ chế thị trường, sự tiếp xúc với tiền tệ, có khi số lượng rất lớn, nó có mãnh lực thúc đẩy lòng tham dục của con người thật ghê gớm, không giới hạn. Cũng như ông bà mình thường nhắc nhở: “Lòng tham con người là không đáy.”
Tham-sân-si là 3 anh em ruột thịt, nó kích động lòng dục lên cao. Do đó, con người rất dễ nhúng tay vào bất cứ tội ác nào có thể. Như trong chiến tranh, bọn Việt gian có thể bán đứng đất nước, tiếp tay cho giặc, phản bội lại đồng đội, giết hại dân tình vô tội…Nhưng để che đậy lương tâm, người ta sẵn sàng lấy danh nghĩa chiến đấu vì ý thức hệ!...Trong thời bình thì tệ hại hơn nữa, người ta có thể bán rẻ cả tiền đồ dân tộc thông qua sự lợi dụng chức quyền để tham ô, tham nhũng, với lý lẽ so kè “Ai sao tôi vậy! Nó ăn tại sao mình không ăn! Tất nhiên ở đây tôi không có ý vơ đũa cả nắm, bởi đất nước ta, trong hàng ngũ lãnh đạo, trong chính quyền vẫn còn nhiều người trong sạch, tận tụy, nên đất nước mới tồn tại đến ngày hôm nay, nhưng đã rõ tệ nạn tham nhũng đúng là căn bệnh nan y, trầm kha và khá phổ biến trong cộng đồng hiện nay cần chữa trị.
Đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng như Bác Hồ ta trong từng giai đoạn lịch sử vẫn thường xác định: Giữ vững sự trong sạch của Đảng như giữ gìn con ngươi của chúng ta. Do vậy, theo quan điểm khách quan, ta có thể nhận định chung:
- Lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp của Đảng ta nói riêng và của chủ nghĩa Mác - Lê Nin nói chung là rất phù hợp với tiến trình phát triển lịch sử, nó ra đời vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản, khẳng định ưu thế vượt trội của nó hơn hẳn các chế độ trước kia, nhưng thiên tài hơn các triết gia, các học giả, các nhà chính trị đương thời Karl Marx đã tìm thấy trong nó bản chất bóc lột tinh vi thông qua máy móc để không ngừng nâng cao năng suất lao động của người lao động (quan điểm đó vẫn còn đúng cho đến ngày nay), thông qua đó, con người lao động bị bóc lột tận xương tủy. Nhân loại cũng không thể không biết ơn những thành quả cách mạng qua các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong Quốc tế Cộng Sản I (do Karl Marx lãnh đạo), Quốc tế Cộng sản III (do Lê Nin lãnh đạo) để chống lại các luận điệu mỵ dân, vạch trần bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đương thời để giải phóng những người lao động, những người cùng khổ của các dân tộc thuộc điạ … mà Việt Nam ta cũng không ngoại lệ. Quan điểm đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam xét cho cùng cũng là hiện thân của quan điểm cứu độ dân sinh của Đạo Phật. Cũng như các đời vua nhà Trần đã từng lãnh đạo nhân dân ta thực hiện hai cuộc chiến tranh vĩ đại chống giặc Nguyên - Mông, nhưng cái khôn khéo của các vua nhà Trần là đem giáo lý Phật Đà vào giáo dục dân sinh. Cụ thể là các quan nổi tiếng nhà Trần có công lớn với đất nước như Quốc sư Phù Vân, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, cho đến những người dân ở xã ấp như Lê Công Mạnh và anh em con cháu họ trong cuộc sống đời thường, họ là những “Bồ Tát trang nghiêm”, đối với bản thân họ giữ gìn kỷ luật và sống cuộc sống có lý tưởng “Vì cuộc sống nhân sinh”, đồng thời họ cũng là những bậc trượng phu trung hiếu “trung với tổ quốc, hiếu thảo với ông bà cha mẹ.” Vậy thì nhìn lại thực tại với thành quả cách mạng về mặt vật chất (ta có chính quyền, ta có quê hương đất nước thanh bình), nhưng muốn giữ được và phát huy nó chúng ta không thể phủ nhận yếu tố tinh thần và vật chất cùng phát triển song song (cũng như Lê Nin thường nói: giành chính quyền đã khó mà giữ chính quyền lại còn khó hơn!). Tại sao chúng ta không học tập gương của tiền nhân, đem giáo lý Phật Đà ứng dụng vào cuộc sống, dạy cho mọi người cách ăn cách ở; ngoài hiệu lực của luật pháp, mọi người nên tin vào định luật nhân quả, sống tròn hiếu đạo làm người… nhà nước pháp quyền phát huy hiệu lực quản lý xã hội dựa trên hệ thống pháp luật, cũng như trong tôn giáo là ý thức giữ gìn giới luật của hàng tu sĩ và cư sĩ Phật tử. Vậy thì với chức năng “hành đạo” của các nhà lãnh đạo tôn giáo, hãy siết tay cùng chính quyền để chuyển hóa luật pháp thành giáo lý của tôn giáo, theo như đề nghị của một vị chức sắc tôn giáo ở miền Tây - Nam bộ gần đây nhất. Chúng ta không thể không nhắc đến những thế lực cố tình chia rẽ khối đoàn kết dân tộc và tôn giáo đang ở trong và ngoài nước ta. Bởi mang tâm ngã mạn, tâm phân biệt, nên vướng mắc vào tấm màn vô minh được che đậy với chiêu bài “ý thức hệ thời hậu chiến.”

Phật giáo đồng hành cùng công cuộc phát triển đất nước trong tương lai.
Trên thực tế, ở nước ta giáo lý Phật Đà đã soi sáng khắp nơi, từ người dân bình thường đến các vị cựu tướng lãnh, các nhà lãnh đạo nhà nước, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp tu thiền rất nghiêm mật, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tham gia nghiên cứu khoa học về khoa Cận tâm lý, cộng tác với các nhà ngoại cảm tìm mộ liệt sĩ…Trong Đại lễ cầu siêu ở Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nhân dịp 30/4 vừa qua, có sự chủ trì của các vị lãnh đạo đất nước đã đọc chú Vãng sanh và Tâm Kinh Bát Nhã rất thuần thục.
Thông qua các bài thuyết giảng trong hàng chư Tăng như HT. Thích Trí Quảng, HT. Thích Giác Toàn, ĐĐ. Thích Nhật Từ, …, nhiều vị đã kết hợp nhuần nhuyễn giáo dục ý thức công dân, ý thức tuân thủ pháp luật cho tín đồ Phật tử thông qua việc cổ xúy các phương pháp tu tập, giữ gìn giới luật và lòng tin sâu nhân quả nhằm chuyển hóa tâm thức con người ngày càng hướng thiện, góp sức phần nào làm lành mạnh hóa xã hội.
Nói tóm lại, đất nước ta may mắn trong giai đoạn hiện nay đang có hòa bình, chủ trương nhà nước muốn xây dựng thành công Chủ Nghĩa Xã Hội để làm tiền đề tiến lên Chủ Nghĩa Cộng Sản (thế giới đại đồng) để mọi người được sống sung sướng, bình đẳng và hạnh phúc, thiết nghĩ Nhà nước và nhân dân cùng nhìn về một hướng, cán bộ Nhà nước cần trau dồi nếp sống “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư” học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh lúc sinh thời. Còn hàng Phật tử chúng con (chiếm gần 85% dân số Việt Nam) hãy giữ gìn 5 giới luật căn bản, trên cơ sở tin sâu nhân quả. Có như thế thì lòng tham, cái ác sẽ bị đầy lùi, thay vào đó ta có những con người hiền lương, luôn có nếp sống “Cư trần lạc đạo” giữa đời thường, cho dù ở thế kỷ 21 hay vào những thế kỷ tiếp theo thì giá trị đạo đức này vẫn là cơ sở kiến tạo nền văn minh nhân loại dựa trên tính chất nhân bản của con người toàn diện, mà trong giáo lý Phật Đà gọi là Giới-Định-Tuệ và người con Phật vẫn ngày ngày trau tâm.