Vấn đề xã hội hóa với đạo đức Phật giáo

Ban TT-TT Hệ phái 04/01/2013, 13:30

   I. DẪN NHẬP

Xã hội học là một môn khoa học có tính độc lập, thực nghiệm và có hệ thống logic. Ngành xã hội học được xây dựng trên mô hình của khoa học tự nhiên nên mang tính thực chứng. Khi nghiên cứu về xã hội, các nhà xã hội học cho rằng xã hội được tạo nên bởi các cá nhân và cá nhân luôn luôn nỗ lực để hội nhập vào xã hội. Xã hội học là cơ sở lý luận giúp cho mọi người có thể nhận thức đúng về mối quan hệ xã hội một cách khách quan. Xã hội học là một ngành khoa học còn rất non trẻ so với các ngành khoa học khác. Tuy nhiên, ngày nay nó chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống khoa học xã hội cả về mặt lý thuyết lẫn ứng dụng.

Với tư cách là một môn khoa học độc lập, xã hội học đã khẳng định vai trò và vị trí của mình trong xã hội. Bằng những phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, dựa trên cơ sở lý luận giúp cho chúng ta nhận thức sự vật hiện tượng một cách khách quan vô tư không thiên lệch. Xã hội học đóng một vai trò rất quan trọng trong công cuộc đổi mới và xây dựng xã hội thành một thể thống nhất và hoàn chỉnh, giúp cho con người tôi luyện nhân cách đạo đức trong quá trình xã hội hóa, để cho mọi người tiếp nhận nền văn hóa văn minh của nhân loại trong quá trình ứng xử, giao tiếp một cách hài hòa và hoàn thiện phẩm hạnh thanh cao của một cá nhân đối với một tập thể. Đây cũng là đề tài mà người viết muốn trình bày trong thiên tiểu luận khá khiêm tốn này. Hy vọng người đọc cảm nhận được và tạo thêm niềm cảm hứng về môn xã hội học để ngày càng có nhiều người đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu xã hội học.

 II. XÃ HỘI HỌC LÀ GÌ?

Xã hội học là môn học về các vấn đề xã hội, các mối quan hệ xã hội. Thuật ngữ “xã hội học” được nhà xã hội học người Pháp – August Comte (1798 - 1857) xây dựng và đưa vào hệ thống tri thức khoa học lần đầu tiên vào năm 1838. Nó được ghép từ hai chữ có nguồn gốc khác nhau: “Socius” từ tiếng La Tinh có nghĩa là xã hội, và “logos” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là học thuyết, bộ môn và do đó nó trở thành thuật ngữ mới “Sociologie” có nghĩa là “bộ môn nghiên cứu về xã hội.” Ông Auguste Comte định nghĩa về xã hội học như sau: khoa học xã hội là tìm hiểu các quy luật xã hội giống như các quy luật vật lý, cho phép tìm ra những hệ quả của sự liên kết những hiện tượng xã hội. Với đóng góp của mình, August Comte được coi là người có công xây dựng nền móng đầu tiên cho ngành khoa học này.

Emile Durkheim (1858 – 1917) nhận định rằng xã hội học là khoa học nghiên cứu về những sự kiện xã hội. Emile Durkheim dựa vào mô hình của các khoa học tự nhiên để xây dựng ngành xã hội học mang tính thực chứng. Ông coi sự kiện xã hội như là những cách suy nghĩ của hành động và cảm xúc tồn tại độc lập ở bên ngoài ý thức của mọi cá nhân, có sức mạnh áp đặt lên cá nhân làm cho mọi cá nhân phải chịu ảnh hưởng những tác động của những yếu tố bên ngoài môi trường xã hội. Và từ đó ý thức cá nhân và ý thức tập thể được hình thành và tồn tại trong mỗi con người. Trong khi Max Weber (1864 – 1920) cho rằng xã hội học là khoa học nghiên cứu các hành động xã hội. Theo ông, khác với khoa học tự nhiên, đối tượng nghiên cứu xã hội học là những hành động của xã hội, toàn bộ những hành động xã hội tập hợp lại thành mối quan hệ xã hội và hình thành những quy tắc, tổ chức pháp luật của xã hội và hành động hành vi của các cá nhân. Và mọi cá nhân luôn luôn mang tính độc lập và sáng tạo.

Tuy nhiên, có nhiều chiều hướng nghiên cứu khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà xã hội học có quan điểm chung là: xã hội học là ngành khoa học nghiên cứu một cách hệ thống, và những mối quan hệ xã hội có sự tương hỗ giữa người và các nhóm người.

 III. XÃ HỘI HÓA TRONG XÃ HỘI HỌC

1. Định nghĩa

Xã hội hóa là một quá trình mà các cá nhân tiếp nhận nền văn hóa trong đó con người đã sinh ra. Đây là quá trình cá nhân học cách làm người, cách suy nghĩ, cách ứng xử sao cho hợp lý, phù hợp giá trị đạo đức của xã hội.

Xã hội hóa là một phạm trù cơ bản của xã hội học. Nhờ quá trình xã hội hóa mà đạo đức và nhân cách cá nhân và nhóm được tồn tại và luân chuyển nền văn hóa được truyền thừa từ thế hệ này qua thế hệ khác.

2. Các giai đoạn xã hội hóa

Xã hội hóa được các nhà xã hội học thống nhất và chia ra làm ba giai đoạn:

Giai đoạn đầu là gia đình: khi những đứa trẻ mới sinh ra, những năm tháng đầu tiên mà trẻ tiếp cận chính là nhóm người trong gia đình, giai đoạn này trẻ nhỏ hoàn toàn mang tính tự nhiên và dựa trên những tình cảm của người thân mà trẻ tiếp nhận học hỏi, bắt chước một cách không có chủ đích. Gia đình là môi trường quan trọng nhất trong giai đoạn xã hội hóa đầu tiên mà trẻ em học được ở người cha, mẹ, anh chị em trong phạm vi giao tiếp của mình. Và cha mẹ phải dạy cho trẻ biết lễ phép, biết lắng nghe lời những thành viên trong gia đình, không được hỗn láo với người lớn, nói năng lễ phép, đi thưa về trình, “ăn phải biết coi nồi, ngồi phải biết coi hướng” v.v… là những kinh nghiệm xã hội, giá trị, tiêu chuẩn văn hóa mà gia đình muốn truyền đạt để đứa trẻ trở thành những thành viên của một xã hội.

Giai đoạn tiếp theo là trong nhà trường: khi lớn lên khoảng năm sáu tuổi, trẻ được đưa đến trường học, học những kiến thức phổ thông cơ bản nhất. Đây là quá trình cung cấp những kiến thức khoa học nhằm quyết định những mối quan hệ cơ bản giữa thầy trò và bè bạn. Ngoài ra, trẻ còn phải học nhân cách làm người, tạo những mối quan hệ tốt trong xã hội, để chuẩn bị một số vốn liếng kiến thức phổ thông và tích lũy chút ít kinh nghiệm bước vào xã hội. Đây là quá trình xã hội hóa của học sinh trong trường học.

Giai đoạn thứ ba là môi trường xã hội hóa của người lớn trong xã hội. Đây là môi trường mang tính rộng lớn và vô cùng phức tạp. Đó là các nhóm mà cá nhân là thành viên, ví dụ như các nhóm sinh viên, nhóm nghiên cứu, nhóm có cùng một sở thích trong một cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, tiểu đội trong quân đội. Phần lớn xã hội hóa cá nhân trưởng thành thông qua các chuẩn mực chính thức và không chính thức. Thậm chí nó có thể phá vỡ những giá trị xã hội hóa trước đó.

Ba giai đoạn trên có mối liên quan đan xen vào nhau và sự khắng khít với nhau rất chặt chẽ. Quá trình xã hội hóa trước làm tiền đề cho quá trình xã hội hóa sau. Người được giáo dục tốt ở môi trường gia đình và học được sẽ có nhiều cơ hội trở thành các thành viên tốt của các nhóm xã hội khi tham gia vào các môi trường nhóm ở xã hội rộng lớn hơn. Nói tóm lại, xã hội hóa là quá trình học cách làm người, cách ứng xử sao cho hợp lý.


IV. XÃ HỘI HÓA VỚI ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

1. Đạo đức Phật giáo

Thiện là đạo đức, bất thiện là phi đạo đức theo quan niệm của Phật giáo. Nói cách khác, đạo đức là nền tảng căn bản của quá trình thanh lọc tham, sân, si trên bước đường tu tâm dưỡng tánh, trau dồi Giới Định Tuệ. Do vậy, chuẩn mực đạo đức chỉ có thể do cá nhân thể nghiệm và đặt ra, dựa vào động cơ và hiệu quả đoạn diệt tham, sân, si trên con đường tu tập Giới Định Tuệ, chớ không phải thiết lập những chuẩn mực đạo đức bằng những hành động bên ngoài. Bởi vì cùng một hành động có thể là hành động thiện hay hành động bất thiện.

Con đường đạo đức Phật giáo là con đường của những cá nhân tự giác, tự nguyện và tự chứng trên con đường hướng đến giải thoát giác ngộ. Tự mình hãy thắp đuốc lên mà đi, không nương tựa vào một ai khác ngoài chính mình.

Đức Phật dạy:

Hãy trở về nương tựa chính mình và nương tựa Pháp.”

“Hãy là nơi nương tựa cho chính mình, không tìm kiếm một nơi nương tựa nào khác.”

“Ngươi là hòn đảo, là nơi nương tựa của chính ngươi.”

Đạo đức Phật giáo lấy Giới Định Tuệ làm tiêu chuẩn trên con đường chuyển hóa thanh lọc thân tâm, xây dựng một con người hoàn thiện có một cuộc sống hướng thượng, có lòng vị tha vô ngã. Con đường giáo dục đạo đức Phật giáo là xây dựng tâm ổn định, bất hại, an lạc, vì hạnh phúc cho số đông, cho chư thiên và loài người. Thế nên, trong quá trình xã hội hóa của cá nhân và nhóm thì rất cần có sự đóng góp của nền giáo dục đạo đức Phật giáo. Vậy xã hội hóa với đạo đức Phật giáo bằng con đường nào?

2. Xã hội hóa với đạo đức Phật giáo bằng con đường Giới Định Tuệ

Như chúng ta biết, mục đích Đức Phật ra đời là vì hạnh phúc an lạc cho chư thiên và loài người. Với lòng từ bi thương xót chúng sanh đang chìm đắm trong vòng trầm luân sanh tử, sau bao nỗ lực tầm sư học đạo, cùng sự nỗ lực tự thân, Đức Phật đã thấy rõ sự khổ, nguyên nhân sự khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ. Bằng kinh nghiệm tu tập và sự chứng ngộ Niết-bàn của bản thân, Ngài đã tuyên bố hùng hồn rằng khả năng giác ngộ và siêu thoát nằm trọn vẹn và hoàn toàn cho những ai thực tập theo con đường giải thoát do Ngài hướng dẫn. Toàn bộ những lời giáo huấn của Ngài dựa trên nền tảng Giới Định Tuệ. Đây là ba môn học căn bản được kết tinh từ nền giáo lý an lạc và giải thoát. Người thực hành Giới Định Tuệ tức là người đang đi trên con đường xã hội hóa bằng đạo đức Phật giáo, để xây dựng một nếp sống lành mạnh, hòa bình, đạo đức và cũng là nền tảng căn bản xây dựng xã hội văn minh, tự do, hạnh phúc.


Đức Phật giảng dạy phương pháp xây dựng xã hội lành mạnh, hòa bình, đạo đức

Giới có nghĩa thù thắng về mặt đạo đức, mang nộidung “phòng phi chỉ ác” hay “chỉ ác tác thiện”, tức là ngăn ngừa những việc xấu quấy ác, diệt trừ các ác bất thiện như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu… Cũng như thường làm những điều lợi ích cho mình và cho người, nhằm mục đích đem lại cho người có một đời sống cao thượng, mang chất văn minh thánh triết có giá trị đạo đức cao, được mọi người tôn kính.

Năm giới của Phật giáo là chuẩn mực cho loài người nói chung, giá trị đạo đức của năm giới được các nhà đạo đức học, triết học, xã hội học trên thế giới công nhận rất là nhân bản.

Người sống thiện giữ năm giới bao giờ cũng thấy không sợ hãi và hổ thẹn. Bởi vì sao? Là vì người có giữ năm giới thì họ không bao giờ làm tổn hại đến người khác, họ luôn luôn bảo vệ mạng sống của mình và của cả mọi người. Chúng ta thử nghĩ xem hiện nay những tệ nạn xã hội xảy ra quá nhiều là do đâu? Phải chăng là mọi người không biết giữ gìn năm học giới? Hàng ngày qua các trang báo cho chúng ta thấy những tệ nạn xã hội xì ke, ma túy, mại dâm, cờ bạc, rượu chè, trộm cướp... xảy ra thường xuyên không thể kể hết, vấn đề này làm cho các cấp lãnh đạo phải đau đầu, các nhà giáo dục, các nhà xã hội học, các nhà tôn giáo rất quan tâm, và đề xuất biết bao nhiêu biện pháp để ngăn chặn và phòng ngừa, nhưng trên thực tế cho chúng ta thấy thì tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng. Sao chúng ta không khuyên tất cả mọi người nên thực hành những lời Đức Phật dạy để xây dựng một cuộc sống an lành hạnh phúc, lập lại trật tự xã hội, thiết lập một xã hội hòa bình cho toàn nhân loại?

Định là sự tập trung tâm ý vào một đề tài hay một đối tượng một cách chuyên chú không cho xao lãng. Đó là bước kế tiếp của con đường thanh lọc thân và tâm, giai đoạn này định có công năng giúp cho tâm không chạy theo những đối tượng ở bên ngoài. Tâm vững vàng chuyên sâu, không nghi ngờ sợ hãi, không bị lôi kéo bởi những xu hướng xấu. Định là nền tảng của đạo đức, khi có định tâm không bị lôi kéo chạy theo những lạc thú trụy lạc, làm mất đi phẩm chất thanh cao vốn có của mọi người. Người có Định, tâm rất nhẹ nhàng thanh thoát, ung dung tự do không phiền muộn, không bị vật chất cám dỗ, không bị địa vị danh vọng làm thoái hóa phẩm chất đạo đức, không có tham nhũng rút ruột tiền của thiên hạ, của nhà nước làm của riêng mình. Nói tóm lại, người có Định là người có đạo đức.

Tuệ là hiểu biết thấy rõ thực tướng của các pháp vô thường sanh diệt. Nhờ có thiền định mà trí tuệ từ đó phát sinh. Đó là trí tuệ thấy rõ thực tướng của các pháp, thấy rõ sự lý của Tứ Đế và có khả năng đoạn tận khổ đau sanh tử như Pháp trí, loại trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tận trí, vô sanh trí. Chính nhờ các trí này mà hành giả mới quán sát, thấy rõ các pháp là vô thường, khổ không, vô ngã.

Tất cả hành vô thường

Với tuệ quán thấy vậy

Đau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh.

Người nào có trí tuệ thì người đó không có khổ đau. Trí tuệ là ngọn lửa thiêu đốt tất cả những phiền não đem lại hạnh phúc cho con người. Người có trí tuệ mới phân được nẻo chánh đường tà, mới có sự yên vui hoàn hảo.    

V. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO TRONG XÃ HỘI HÓA

Giá trị đạo đức Phật giáo là quá trình chuyển hóa phẩm hạnh, nhân cách đạo đức cho được toàn chân thiện mỹ, xây dựng một nếp sống lành mạnh, hòa bình cho nhân loại.

Thiết lập một mô hình xã hội lý tưởng, trong đó mọi người sống trong sự hòa hợp, thanh tịnh, không còn những hành động bất thiện để đem lại quyền lợi đến cho mình, mọi người biết chia sẻ yêu thương nhau, trong tình huynh đệ “anh em như thể tay chân” là quá trình xã hội hóa trên nền tảng đạo đức Phật giáo.

Đạo Phật là tôn giáo của nhân bản, trí tuệ và từ bi. Phật giáo không bắt mọi người tin theo một tín điều nào, mà chỉ khuyên mọi người tin vào sự thực hành với những gì thấy đúng, chứng nghiệm và điều nào là lợi ích cho mình và mọi người. Mục đích chính của đạo Phật là hướng dẫn con người đi ra khỏi khổ đau. Với mục đích này, đạo Phật không tách rời xã hội, luôn luôn hòa đồng dung hợp vì hạnh phúc của số đông. Với lòng Từ Bi, đạo Phật tránh xa không dùng đến bạo lực. Trong vấn đề truyền bá giáo pháp, các nhà truyền bá không bao giờ dùng đến phương pháp áp bức mà Phật giáo đi vào lòng người một cách ôn hòa và không làm xáo trộn những căn bản tín ngưỡng sẵn có. Các cuộc thánh chiến không bao giờ có sự dự phần của Phật giáo. Giúp cho nhiều người trong cộng đồng khơi dậy những đức tính cao quý mà đạo Phật chú trọng đến như từ bi, trí tuệ là đưa đạo Đức Phật giáo vào cộng đồng bằng con đường xã hội hóa.


Ứng dụng đạo đức Phật giáo xây dựng xã hội phát triển luôn là sứ mệnh của các Tăng sĩ Phật giáo

Đạo Phật đã xây dựng một xã hội công bằng và khiến cho mọi người tìm thấy một “lẽ sống” hạnh phúc đích thực. Chính vì thế mà đạo Phật được xem là nền tảng tinh thần của xã hội nhân bản. Đạo Phật đã đặt niềm tin vào con người, mọi vấn đề đều do con người sáng tạo, con người làm chủ tất cả. Bởi thế, đạo Phật luôn lấy việc giáo dục con người toàn diện làm gốc, không phân biệt chủng tộc, giai cấp. Phật giáo chủ trương con người phải được sống một cuộc sống bình đẳng và tự do, không có giai cấp người bóc lột người, kỳ thị chủng tộc. Bởi vì thiếu sự bình đẳng và tự do thì con người mất hết nhân cách, phẩm chất đạo đức.

Đức Phật khẳng định rằng tất cả mọi chúng sanh đều có Phật tính. Nếu chúng sanh quyết chí theo con đường Giới Định Tuệ của Ngài để tu tập thì nhất định sẽ thành Phật. Chính những ý niệm trên đã cho chúng ta thấy giá trị nhân bản toàn diện của Phật giáo về những mối quan hệ trong xã hội giữa sự vật hiện hữu trong cuộc sống, để giúp cho mọi người cái nhìn xác thực, để tạo dựng cho mình một cuộc sống lành mạnh và hoán chuyển hoàn cảnh xung quanh. Để ánh sáng đạo mãi mãi sáng ngời, làm ngọn đuốc soi đường dẫn lối cho những ai chưa giác ngộ.

Đạo Phật luôn khuyến khích mọi người thực hành Giới Định Tuệ để làm đẹp cho chính mình và xã hội. Đạo Phật đặt giá trị bình đẳng giữa Phật và chúng sanh; đây là sự bình đẳng triệt để. Giáo lý của đạo Phật còn dạy cho tất cả mọi người đóng góp vào công cuộc xây dựng một xã hội công bằng, không có áp bức bóc lột, phẩm chất đạo đức được đề cao. Vì thế, mọi giá trị thực hành trong đạo Phật là nhằm tôn trọng lẽ phải, cải tạo tự thân và hoàn cảnh xã hội để làm đẹp xã hội, làm đẹp cuộc đời.

 VI. ỨNG DỤNG VÀO ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Con đường đạo đức của Phật giáo là xây dựng đời sống an lành cho nhân loại. Đây là một sự đóng góp cụ thể và thiết thực của đạo Phật mà các tôn giáo khác khó có thể sánh kịp.

Đạo Phật luôn mang tinh thần tự lợi và lợi tha đi vào cuộc sống xã hội. Đạo Phật không tách rời xã hội “vì hạnh phúc, an lạc cho chư thiên và loài người”. Với tinh thần Từ Bi và Trí Tuệ, đạo Phật đã đi vào lòng của dân tộc Việt Nam nói riêng và cả nhân loại nói chung. Đạo đức Phật giáo đã dạy cho mọi người cuộc sống an vui và hạnh phúc, chia sẻ những nỗi khổ niềm đau của nhân loại trước những cuộc chiến tranh, những trận thiên tai bão lụt do cộng nghiệp gây ra.

Với tinh thần tự lợi lợi tha, Đức Phật đã dùng nhiều phương tiện cứu khổ cho tất cả chúng sanh ra khỏi trầm luân sanh tử. Đem lại cho con người một cuộc sống lạc quan trong tiến trình chuyển hóa thân tâm thành người thực dụng cho xã hội, góp phần cho tiến trình hòa bình thế giới.

Đời không đạo nên đời loạn khổ

Đạo ở đời thật chỗ yên vui.

 VII. TỔNG KẾT

Mục đích của xã hội hóa trong xã hội học là hướng con người đến lẽ phải, xây dựng cho cá nhân toàn thiện nhân cách làm người, tạo ra một mối quan hệ xã hội lành mạnh, thánh thiện, mọi người biết thương yêu và chia sẻ với nhau những nỗi khổ và niềm đau. Thiết lập một đời sống chuẩn mực đạo đức xã hội trong quan hệ giao tiếp giữa con người với con người và các giữa nhóm, tổ chức với xã hội.

Xây dựng đời sống đạo đức đứng đắn, thực nghiệm phổ quát cho mọi người luôn luôn yêu chuộng điều tốt, cái đẹp, hòa bình, tự do, dân chủ trong tinh thần đoàn kết của dân tộc. Tạo ra một vẻ đẹp hài hòa trong một xã hội biết tôn trọng sự thật, ghét sự dối trá, ích kỷ, tham lam, keo kiệt, bỏn sẻn. Do vì hạnh phúc của con người là mục tiêu của cuộc sống nên hạnh phúc của con người là giá trị chuẩn mực của đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống. Thế nên, chúng ta phải quan tâm đến giá trị đạo đức Phật giáo.

Đạo đức Phật giáo sẽ đem lại hạnh phúc an vui cho mọi người, một nền đạo đức có khả năng làm lắng dịu tham sân si, hóa giải những chiến tranh, hận thù của nhân loại. Đức Phật dạy:

Lấy hận diệt hận thù

Đời này không diệt được

Không hận diệt hận thù

Là định luật ngàn thu.

Chúng tôi thiết nghĩ xã hội hóa đạo đức Phật giáo bằng con đường Giới Định Tuệ là sự hoàn hảo cho đời sống đạo đức. Hướng con người đến nền trật tự đạo đức tốt nhất và hoàn hảo nhất, trong tinh thần xây dựng xã hội hòa bình, theo hướng xã hội hóa con người và xã hội hóa xã hội một cách hoàn chỉnh nhất.

Giới Định Tuệ còn là một bức thông điệp hoàn hảo, có giá trị vĩnh hằng vượt không gian và thời gian, mang lại giá trị thực tiễn đến cho toàn thể nhân loại qua lời dạy sau:

Dứt các điều ác

Làm các điều lành

Giữ tâm trong sạch

Là lời Phật dạy.