
Chơn lý số 2.
NGŨ UẨN
I. NGŨ UẨN HAY NGŨ ẤM.
Ngũ uẩn là tên gọi chung,
Của năm pháp cái, tựu trung năm phần.
Trong vũ trụ mọi duyên nhân,
Có hình, không tướng, thuộc phần năm chi.
Còn có tên ngũ ấm vì,
Nghĩa là che đậy, phủ vây bao trùm.
Sắc uẩn, hình thể sắc thân,
Thọ uẩn, cảm xúc do trần tiếp căn.
Tưởng uẩn, tư tưởng có dần,
Sự nhớ tưởng biết tăng dần nhiều năm.
Hành uẩn, hành vi của thân,
Thức uẩn, thức trí biệt phân lâu đời.
Chữ uẩn súc tích, gọi mời,
Gom kết, chứa nhóm, cảm vời các duyên.
Ngũ ấm tích tập tăng thêm,
Ấm là che lấp, nhận chìm khổ đau.
Các pháp nương sanh lấy nhau,
Tứ đại dung hợp đón chào các duyên.
Ấm là yếu tố đầu tiên,
Giúp cho các pháp hữu duyên hiển bày.
Có nước bột, có bánh ngay,
Uẩn, nước, bột, bánh, không ngoài lẽ chung.
Các pháp duyên hợp trùng trùng,
Sanh nảy, thành tựu duyên cùng với nhau.
Thế gian, vũ trụ đâu đâu,
Từ năm pháp cái gồm thâu tác thành.
Cái thể rộng lớn bao trùm,
Súc tích, chứa nhóm, gom chung các loài.
II. NHÂN DUYÊN CỦA SẮC UẨN
Mọi vật thô tế trong ngoài,
Thế gian gồm đủ vạn loài chúng sanh.
Tứ đại dung hợp tác thành,
Ấm duyên cảm hóa biến sanh địa cầu.
Hỏi: Sắc uẩn có từ đâu ?
Sắc uẩn cái có không đầu, không đuôi.
Tự nhiên như vậy mà thôi,
Địa cầu tứ đại từ nơi không thành.
Tứ đại nguồn gốc thọ sanh,
Nhơn duyên thành hoại vận hành trước sau.
Có tứ đại, có địa cầu,
Vạn vật hình sắc khởi đầu là không.
III. TỪ SẮC UẨN ĐẾN THỌ UẨN.
Từ không kỳ diệu lạ lùng,
Đất, nước, lửa, gió hợp chung biến thành.
Nhựa chỉ, mồ hôi phát sanh,
Rể cây, cỏ, thú, nước sanh rong bèo.
Cỏ cây, cảm thọ dần theo,
Sinh ra cây lớn sống nhiều năm hơn.
Cây lâu năm cảm thọ dần,
Cây to hay có thọ thần hiển linh.
IV.THỌ UẨN ĐẾN TƯỞNG UẨN.
Cây sống nhiều năm cộng sinh,
Thọ cảm cứng vững hóa sinh thú cầm.
Tư tưởng mạnh nên tượng hình,
Các loài động vật biến sinh các loài.
Tư tưởng tăng trưởng tháng ngày,
Lâu ngày già giặn có ngay linh hồn.
V. TƯỞNG UẨN ĐẾN HÀNH UẨN.
Thú sống nhiều năm khéo khôn,
Tư tưởng già giặn linh hồn nhập thai.
Bằng hành uẩn tạo hình hài,
Thành người khôn khéo, kéo dài tuổi sanh.
Hành vi kinh nghiệm trưởng thành,
Linh hồn vững chắc trở thành khôn ngoan.
Mặc dù sống giữa thế gian,
Lâu ngày nhiều kiếp khôn ngoan vô cùng.
VI. HÀNH UẨN ĐẾN THỨC UẨN.
Loài người nhiều năm sống chung,
Cái biết già giặn theo cùng thời gian.
Từ kinh nghiệm của việc làm,
Lần sanh thức trí ngày càng khéo khôn.
Từ thường nhơn đến siêu nhơn,
Trải qua một khoảng thời gian lâu dài.
Chẳng phải một kiếp một đời,
Ngàn vạn ức kiếp thành trời thiện nhơn.
VII. THỨC UẨN ĐẾN GIÁC CHƠN.
Trời sống rất lâu thiện hơn,
Thông minh thức trí, giác chơn hiển lần.
Tâm chơn tỏ ngộ thoát trần,
Toàn đức, toàn trí, toàn nhân hoàn toàn.
Sau khi phận sự làm tròn,
Công viên quả mãn, Phật người toàn năng.
VIII. NGŨ UẨN HAY NGŨ ĐẠO.
Thân đứa trẻ mới tượng sanh,
Trong thai mẹ, Sắc là danh xưng từ.
Sanh ra là Thọ huyển hư,
Đến Tưởng sáu tuổi, biết từ từ sanh.
Đến mười hai tuổi là Hành,
Khi ba mươi tuổi Thức sanh vững bền.
Bốn mươi tám tuổi giác chơn,
Chơn giác, chơn ngã, chơn thường, toàn chơn.
a - Địa ngục.
Đứa trẻ ngồi trong thai bào,
Bụng mẹ như đất vun vào thêm duyên.
Trong ấy nhờ ấm tượng nên,
Có thân cái biết tăng lên lần lần.
Xao động bên ngoài là nhân,
Tác động đến thức biết tầm đường ra.
Đến ngày nở nhụy khai hoa,
Bỏ vô minh, thức tìm ra cuộc đời.
b – Ngạ quỷ.
Trẻ nhỏ sanh ra khóc đòi,
Đòi ăn, đòi bú gốc từ tham lam.
c - Súc sanh.
Trẻ con vọc đất chơi bùn,
Ưa lùm thích buội, dữ hung chơi đùa.
Ham gây gốc sân hận xưa,
Phá phách, nghịch ngợm, lối đưa vào đời.
Sống bằng xấu quấy vui chơi,
Sống trong cái ác khổ đời không hay.
Như đất nước sanh cỏ cây,
Cỏ cây sống, đất nước nầy làm thân.
Mượn máu thịt mẹ tượng thân,
Sinh ra con trẻ nhờ phần sữa thơm.
Nhờ bú sữa mẹ lớn khôn,
Thèm đòi, khóc quấy tích tồn theo duyên.
Lớn lên hết giết mẹ hiền,
Đến tuổi phá phách lụy phiền ông cha.
Ấy bởi sắc thân quấy tà,
Thọ cảm ngạ quỷ, tưởng là súc sanh.
Không ai trách, trẻ chưa lành,
Từng lớp tiến hóa, phải hành vậy thôi.
Như ta nay đã lớn rồi,
Đã từng trãi nghiệm, qua rồi lối xưa.
Sắc thai bào, nghiệp đón đưa,
Thọ ngạ quỷ, biết sao vừa đói tham.
Tưởng súc sanh, rất tinh ranh,
Lần lượt hành đến thiện thanh lớp người.
Thức trời, biết giúp mọi người,
Ta người tương trợ, chuyển dời giúp nhau.
Ai cũng nhờ nương lúc đầu,
Cha mẹ, gốc vốn mới hầu có thân.
Về sau biết tự lo lần,
Tiến hơn lại biết hiếu thân song đường.
d- Nhơn (người).
Đến tuổi mười hai biết thương,
Từ bỏ ác quấy, tập đường thiện nhơn.
Lúc nhỏ biết thương tự thân,
Lớn hơn biết tập thương lần mẹ cha.
Lần thương quyến thuộc gần xa,
Tập ăn chay, tập giảm tha thú cầm.
Con đường sống tiến triển lần,
Ham mê vật chất, lo thân mình nhiều.
Người nhỏ chỉ biết bấy nhiêu,
Tập bỏ cái ác, tập điều thiện nhơn.
e – Thiên (trời).
Tuổi ba mươi, biết sống hơn,
Nói làm việc lớn, lòng thương muôn loài.
Quên mình giúp đở mọi người,
Giao du khắp xứ, ta người giúp nhau
Là trời quảng đại thanh cao,
Vợ chồng như bạn cùng nhau tu hành.
Hiểu lẽ trắng, biết điều lành,
Có thức trí, biết phóng sanh tu hiền.
Lòng người rộng lớn là thiên,
Thiên trời ban rãi đức hiền khắp nơi.
f - Phật.
Trên bốn tám tuổi sống đời,
Sáu căn trong sạch, trụ nơi tịnh nhàn.
Tuổi giác ngộ, biết vô thường,
Từ bi trí huệ, dẫn đường chúng sanh.
Sống không ta, chuyên dạy lành,
Trang nghiêm đức hạnh, không tranh với đời.
Ngày ăn một bửa thảnh thơi.
Không tiền bạc, ai thỉnh mời kết duyên.
Dạy đạo lý, khuyến tu hiền,
Thuận theo lẽ một, vô phiền vô ưu.
Trên sáu mươi, tuổi nghĩ hưu,
Trí đầy tâm đủ, chơn như niết bàn.
Như sen khô cứng hạt vàng,
Trường sanh bất diệt, dưỡng an đời đời.
IX. TỪ NGŨ UẨN ĐẾN GIÁC CHƠN.
Sắc là thân phàm (địa ngục)
Thọ (ngạ quỷ)
Tưởng (súc sanh) là tâm phàm vọng.
Hành (nhơn loại)
Thức là trí phàm (thiên đường). (nguyên văn Chơn lý)
Chót hết giác tánh tâm chơn,
Tánh chơn chư Phật mười phương ba đời.
Giác chứa sẳn, năm ấm rồi,
Mỗi ấm ảnh hưởng đủ rồi các duyên.
Cái giác cũng luôn hiện tiền,
Dừa non nhỏ có thịt, cơm, mộng hồn.
Như vậy trong vỏ đương ngầm,
Thịt cơm, mộng, hột âm thầm tượng sinh.
Hột mộng thể chất cây sanh,
Thịt, cơm, nước, vỏ ẩn thành tùy duyên.
Cho nên tánh Phật diệu huyền,
Từ chúng sanh tánh, có duyên tu hành.
Nếu hột giống, không gieo trồng,
Thì không kết quả, đem trồng thì lên.
Phân chia ngũ uẩn đặt tên,
Từng giới hạn, để biện phân rõ ràng.
Giác là gì ? Có để chi ?
Sự thật năm pháp, cái gì trước sau ?
Thân, tâm, trí, tánh thế nào ?
Cái gì sanh trước, ra sao luận bàn.
Duyên tiến hóa, theo thời gian,
Từ thân đến tánh, con đàng chúng sanh.
Từ thấp đến cao rõ ràng,
Từ địa ngục, đến niết bàn vô sanh.
Từ vô động, đến động sanh,
Cho đến cái biết hoàn thành nghĩ ngơi.
Tồn tại hột giống để đời,
Chơn như chắc thiệt vui chơi cảnh thiền.
X. NGŨ UẨN QUÁ THẠNH CHÚNG SANH KHỔ
Cõi đời hiện tại các duyên,
Mọi vật quyến rủ ta yên được nào.
Kìa như dinh thự lầu cao,
Gấm vóc tốt đẹp, ôi sao mịn màng.
Cao lương mỹ vị bỉ bàng,
Thức ăn, mặc, ở như càng cuốn lôi.
Như thúc giục, như gọi mời,
Có thân sao cưởng được hồi muốn ham.
Huống chi kết quả việc làm,
Khiến cho nhân loại tham lam tột cùng.
Vật chất rực rỡ kỳ công,
Quyến rủ thôi thúc vào vòng mê tham.
Với bao vật sắc hữu hình,
Thọ cảm ưa chịu, tưởng tình muốn ham.
Muốn chiếm hữu, nên phải làm (hành),
Vọng thức sai khiến phải cam nhọc nhằn.
Khi chưa được, khổ vì tham
Đang có cũng khổ, phải làm Ô sin.
Khi mất chịu khổ cực hình,
Ba thời đều khổ tâm tình đảo điên
Ngũ uẩn nguồn gốc phát sinh,
Sự tham, sự khổ điêu linh kiếp người.
Chủ quan, khách quan hai ngôi,
Đoạn trên chỉ nói đến hồi khách quan.
Bên ngoài vật chất, việc làm,
Xâm nhập tư tưởng nên làm khổ thân,
Bên trong cũng có chủ nhân,
Vui vẽ đón tiếp kết thân trong ngoài.
Vọng tâm tiếp nhận hình hài,
Mới sanh thọ, tưởng từ ngay nơi lòng.
Hành vi, thức trí kỳ công,
Cũng vì vọng thức nên lòng vọng sanh,
Làm việc, ham muốn cạnh tranh,
Vui trong cảm thọ, tâm sanh thỏa tình.
Đã sống trong kiếp phù sinh,
Vướng vào guồng máy năm tình lăn xoay.
Chịu khổ năm tháng miệt mài,
Ngũ uẩn, ngũ ấm kéo dài kiếp sinh.
Như nay muốn dứt khổ hình,
Diệt ngũ uẩn, đoạn năm tình đều không.
Hết mê vọng, thảnh thơi lòng,
Tánh chơn giác hiện thoát vòng trầm luân.
XI. PHÁP DIỆT NGŨ UẨN
Mỗi người bởi có sắc thân,
Lâu ngày thọ cảm lần lần phát sanh.
Thọ cảm nối kết tưởng sanh,
Bởi có tư tưởng, mới hành khéo hay,
Việc làm kinh nghiệm lâu ngày,
Thức trí tích lủy, lâu ngày giác chơn.
Đến giác, thức trí không còn,
Theo tuần tự, thọ tưởng hành cũng không.
Không năm uẩn, giác chơn không,
Giác chơn cũng tức lý không cuộc đời.
Không còn vọng cảnh vẻ vời,
Không ý chí, khổ không nơi gá vào.
Muốn nuôi chơn giác tối cao,
Diệt thức trí, bỏ hành mau, tưởng cần.
Dứt thọ cảm, không sắc thân,
Đến đây tất cả cảnh trần đều không.
Nghĩa là coi nhẹ sắc thân,
Xem thân như chết, khổ trần dứt luôn,
Thi hóa
• 06/10/2021, 12:51
Siêng tu tập phước lai láng biển Nếu lỡ lầm chút nghiệp cỏn con Phước tăng thì nghiệp sẽ mòn Không làm ảnh hưởng, không còn đời sauSiêng tu tập phước lai láng biểnNếu lỡ lầm chút nghiệp cỏn conPhước tăng thì nghiệp sẽ mònKhông làm ảnh hưởng, không còn đời sau
Thi hóa
• 06/10/2021, 12:51
Nhà chúng ta càng rộng, Gia đình ta càng nhỏ; Ta càng nhiều tiện nghi, Thời gian càng ít lại...Nhà chúng ta càng rộng,Gia đình ta càng nhỏ;Ta càng nhiều tiện nghi,Thời gian càng ít lại...
Thi hóa
• 06/10/2021, 12:51
Cầu sanh chúng năm châu, Nơi đang lâm tai họa, Thân tâm nặng khổ sầu, Sớm thoát khỏi bệnh não.Cầu sanh chúng năm châu,Nơi đang lâm tai họa,Thân tâm nặng khổ sầu,Sớm thoát khỏi bệnh não.
06/10/2021, 12:51
Siêng tu tập phước lai láng biển Nếu lỡ lầm chút nghiệp cỏn con Phước tăng thì nghiệp sẽ mòn Không làm ảnh hưởng, không còn đời sauSiêng tu tập phước lai láng biểnNếu lỡ lầm chút nghiệp cỏn conPhước tăng thì nghiệp sẽ mònKhông làm ảnh hưởng, không còn đời sau
06/10/2021, 12:51
Nhà chúng ta càng rộng, Gia đình ta càng nhỏ; Ta càng nhiều tiện nghi, Thời gian càng ít lại...Nhà chúng ta càng rộng,Gia đình ta càng nhỏ;Ta càng nhiều tiện nghi,Thời gian càng ít lại...
06/10/2021, 12:51
Cầu sanh chúng năm châu, Nơi đang lâm tai họa, Thân tâm nặng khổ sầu, Sớm thoát khỏi bệnh não.Cầu sanh chúng năm châu,Nơi đang lâm tai họa,Thân tâm nặng khổ sầu,Sớm thoát khỏi bệnh não.