
15 năm (1959 - 1974) kể từ năm cung thỉnh Giáo đoàn về mở đạo trên quê hương đã mất hơn 10 năm chiến tranh trên quê hương này (sau cuộc Lễ Khánh thành năm 1964 đến ngày làm Lễ Vu Lan Bồn năm 1974). Dân tộc và đạo pháp cùng chung số phận.
10 năm đi qua, một chặng đường lịch sử của dân tộc, máu pha lẫn nước mắt thấm vào lòng đất mẹ vì cuộc chiến tranh không giới tuyến. Phật pháp gọi là cộng nghiệp, vì cộng nghiệp nên không thiện ác, kẻ thân người thù…
Ngày mùng 1 tháng 5 năm Bính Ngọ (1966), sám chủ Võ Thẩn (PD. Thiện Khang) qua đời. Sự ra đi của ông khiến Phật tử, dân chúng đảo nhỏ, không ai không rơi lệ kính thương.
Ông Thiện Khang là người độc thân không vợ con gia đình, quy y làm Phật tử, thọ 8 giới trường chay từ năm 1959. Vì có bịnh quáng gà nên ông không theo Thầy hành đạo, trụ ở Tịnh xá 7 năm, chăm lo giữ gìn ngôi Tam Bảo và hướng dẫn Phật tử bà con tu hành. Một đời lương thiện tích đức, lúc vãng sanh lại trả nghiệp kiếp trước bị chết thảm trong bom đạn.
Cái chết của ông đã được các vị vô hình báo trước. Chiều ngày 29 tháng 4 ÂL, trong khi đang đi xuống tắm ở Giếng Tiên (Eo Gió), ông nghe có tiếng la thất thanh: “Chết tôi! Trời ơi!...”. Ông bèn lần theo tiếng la đi tìm nhưng không thấy ai cả, xung quanh chỉ núi và biển.
Ông trở về chỗ cũ lại nghe tiếng la vang lên như trước: “Chết tôi! Trời ơi!...”. Trưa ngày 30 hôm sau, cúng Hội không có Tăng, ông làm sám chủ, dâng hương, khấn nguyện, tôi dẫn kinh như thường lệ. Xong buổi cúng Hội, ông đem câu chuyện ở Eo Gió hôm qua kể lại.
Mọi người nửa tin nửa ngờ, suy nghĩ ‘chẳng lẽ ông bịa chuyện, ông bịa để làm gì?...’. Từ hồi nào tới giờ ông đâu có chuyện nói mập mờ, huyễn hoặc. Tôi nói đùa: “Ông già lỗ tai cộm, tiếng gió vút khe núi âm vang vọng nghe như vậy”.
Thật không ngờ, 6 giờ sáng ngày mùng 1 tháng 5, ông ra ngoài dốc, cách Tịnh xá 20m nhắc mọi người: “Bà con đừng ra phía sau ngoài làng, trước mặt Tịnh xá, ngoài tường rào.” Lúc ấy tôi nằm nghỉ ở nhà khách giật mình vì một tiếng nổ dội vào vách tường.
Sau tiếng nổ long trời, tôi nghe có tiếng la thất thanh y như hôm qua ông kể: “Chết tôi! Trời ơi!...”. Tôi vội chạy ra khỏi cổng, thấy ông đang nằm sống soài trên đường mòn nhỏ sát bờ rào vườn, cách cổng tịnh xá khoảng 15m. Điềm báo trước huyền diệu cho cái chết của ông mà không ai ngờ?...
Cùng năm này, tháng 6 ngôi nhà tranh thờ Cửu Huyền Thất Tổ bị cháy. Kịch chiến nhận lầm quân ta, bắn quân mình, xả súng lựu đạn dội vào Tịnh xá làm cháy ngôi nhà và bị thương chú thợ hồ. Năm đó Sư Tin và Sư Chúng trụ, 2 sư nay đã hoàn tục. Và kể từ năm này, Giáo hội không cắt Tăng về trụ nữa, thỉnh thoảng vài ba tháng có quý Sư về thăm vài hôm rồi đi.
Năm Đinh Mùi (1967), ông Nguyễn Thượt (PD. Thiện Đạt) phát tâm ăn chay trường, về Tịnh xá ở để hương khói, coi ngó vì không có Tăng. Ông lúc này đã 65 tuổi, ông không nhận đắp y, Đức Thầy chứng minh cho thọ 8 giới.
Ông chăm sóc gìn giữ Tịnh xá trước sau thật chu đáo, ông làm huê lợi tự nuôi sống, ngoài ra còn có gia đình con cháu đài thọ, không thọ nhận của thiện tín cúng dường. Ông thọ bịnh 2 năm, rồi mất. Tình cảm giữa ông và thiện tín cũng rất đậm đà.
Ngày Rằm tháng 7 năm Tân Hợi (1971), Đại lễ Vu Lan Bồn - Tự Tứ Tăng tại Tịnh xá Ngọc Cát (Phan Thiết). Vì những năm này cuộc chiến còn căng thẳng nên thiện tín Tịnh xá Ngọc Hòa không đi. Một mình ông Thiện Túc đại diện thiện tín đi dự lễ.
Ngày 18 tháng 7 âl, có tin về cho hay Đức Thầy Giác An đã viên tịch lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 7, thiện tín quây quần về Tịnh xá an ủi lẫn nhau. Ngày 18 tháng 7 làm Lễ Tưởng Niệm Đức Thầy, thiện tín ai ai cũng đều ngậm ngùi thương kính, luyến tiếc bậc Thầy đạo hạnh. Từ đây không còn gặp lại được hình dáng người Thầy ôn hòa, từ tốn, luôn nở nụ cười hiền lành, khuyên dạy, dặn dò thiện tín từng lời…
Năm 1964 - 1974, 10 năm đi qua là 10 năm mất mát đau thương in trong trang sử dân tộc. Đối với đạo pháp đây cũng là giai đoạn lịch sử của một tôn giáo và đối với Hệ phái Khất Sĩ đây quả thật là một giai đoạn vô cùng cam go thử thách.
Tứ chúng đồng tâm, kiên trì, nhẫn nại đưa con thuyền Hệ phái vượt qua mọi khó khăn trở ngại trên đường hành đạo, giữ sáng mãi ngọn đuốc chánh pháp, khêu sáng đèn tâm nơi chúng sinh. Đèn tâm, ấy đèn chơn lý, ngọn đèn soi đường về nhận chân bản chất thật của vạn sự, vạn vật.
Để đền ân Tam Bảo cứu độ muôn loài, đền đáp công ơn Tổ Thầy, ơn Cửu Huyền Thất Tổ, ơn sanh thành dưỡng dục, ngày rằm tháng Giêng năm Giáp Dần (1974), Sư Giác Chững, Giác Chơn (lúc ấy đang trụ tại Tịnh xá, nay hai Sư không còn ở trong đạo) cùng thiện tín phát tâm cung thỉnh Giáo hội về chứng minh cho việc thiết lập Đại lễ Vu Lan Bồn tại Tịnh xá Ngọc Hòa vào rằm tháng 7 năm ấy.
Đây cũng là dịp kỷ niệm đệ tam chu niên ngày Đức Thầy viên tịch để an ủi, khuyến tấn thiện tín, hàn gắn lại vết thương trong những ngày tháng qua.
Ngày mùng 1 tháng 2, tôi vào dự Lễ Tưởng Niệm Tổ Sư Minh Đăng Quang vắng bóng tại Tịnh xá Ngọc Tòng, bạch lên Giáo hội, được Đức Trưởng lão và Giáo hội chứng minh. Ngày mùng 2, Giáo hội vào Tịnh xá Ngọc Cát (Phan Thiết) khánh thành bảo tháp thờ Xá lợi Đức Thầy, tôi theo xe Giáo hội vào dự lễ.
Ngày mùng 4 tháng 2, từ Tịnh xá Ngọc Cát về. Ngày rằm tháng 2 phổ biến cho thiện tín biết. Nhận được tin Giáo hội đã chứng minh, kể từ ngày ấy thiện tín bắt đầu lên kế hoạch chung lo chuẩn bị.
Thiện tín Tịnh xá Ngọc Hòa lúc bấy giờ khoảng 100 gia đình thì có tới 25 gia đình thiếu ăn hằng năm, cứ vào mùa đông sống nương vào chương trình từ thiện cứu đói; 25 gia đình có mức sống dư. Số còn lại đời sống trung bình đủ ăn. Vậy để lo chu toàn cuộc lễ, khó khăn nhất là về mặt tài chính…
Tháng 4 ÂL, Giáo hội tăng cường các Sư về trước lễ để phụ chuẩn bị. Đại đức Giác Thảo, Đại đức Giác Hiền lo phần tu sửa. Sư Chững và Sư Chơn coi ngó vận động, thiện tín hợp lực chung lo. Ban hộ pháp cư sĩ cũng gánh trách nhiệm bộn bề…
Trước khi Đại lễ cử hành, Ban vận động tổ chức lễ, khâu kinh tế tài chính là căn bản, phải vận động có tiền trước khi đi vào tổ chức. Ban tổ chức Đại lễ phải đặt sau Ban vận động.
Dân số toàn xã năm 1974 là 3.000 người, danh sách thiện tín gồm 100 gia đình, khoảng 400 người, chiếm 13% tổng dân số. Chiến tranh kéo dài, làm nghĩa vụ đất nước, đi lính…, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế người dân năm này, phần lớn túng thiếu đói kém.
Thế nhưng nhờ toàn thể thiện tín có tinh thần đoàn kết rất cao, nhiệt tâm với đạo pháp, nên bao nhiêu việc khó khăn trong công tác chuẩn bị Đại lễ cũng sớm được khắc phục.
Bản chất người dân miền biển nói chung, thiện tín Tịnh xá Ngọc Hòa nói riêng yêu quê hương, yêu đạo, mến khách nên Đại lễ Vu Lan được tổ chức chu đáo, dù người dân miền biển mới lần đầu nghinh đón Tăng Sư, Chư Tôn Thượng toạ, Đại đức Tăng Ni, chào mừng quan khách…
Nơi Tăng Ni trú ngụ, nơi thiện tín thập phương ăn ở, nước uống, tắm giặt đều gánh gồng từ xa lên 3 cái dốc đá, song mọi việc đều chu đáo…
Thiện tín Tịnh xá Ngọc Hoà cống hiến tất cả tâm lực, trí lực, tài lực cho Đại lễ. Ba ngày đêm Đại lễ viên mãn, thiện tín Tịnh xá Ngọc Hòa được tròn xong bổn nguyện. Phần công đức này xin hồi hướng cầu nguyện, trên đền bốn ân trọng, dưới cứu khổ tam đồ. Cầu nguyện Phật đạo hoằng khai, pháp luân thường chuyển.
Tổng kết 15 năm, kể từ năm đưa đạo về làng đến năm tổ chức Đại lễ Vu lan Tự tứ Tăng (1959 - 1974):
* Ba lần tổ chức Lễ lớn:
- Lễ An Vị Phật (1962)
- Lễ Khánh Thành (1964)
- Lễ Vu Lan Bồn Tự - Tứ Tăng (1974)
* Hai lần bị nạn:
- Ngày 1 tháng 5 năm 1966 (Bính Ngọ), sám chủ Thiện Khang thọ nạn.
- Ngày 23 tháng 6 năm 1966 (Bính Ngọ), ngôi nhà thờ Cửu Huyền Thất Tổ bị cháy.
(Còn tiếp)
Biên tập lại từ nguồn: phattuvietnam