
Để có nơi trang nghiêm thờ phụng, thiện tín có nơi tu học, chiêm bái, tuy đời sống kinh tế của người dân lúc bấy giờ còn nghèo lắm, mọi người vẫn hoan hỷ, nhiệt tâm vun bồi ngôi nhà Phật pháp chung đầy đủ, ấm cúng hơn. Phật pháp đã bén rễ trong tư tưởng và đời sống sinh hoạt của họ rồi.
Vào ngày Rằm tháng Giêng năm Nhâm Dần (1962), Ban hộ pháp mời thiện tín họp bàn và vận động xây cất Tịnh xá, thiện tín nhất trí phát tâm. Ngày mùng 1 tháng 2, chúng tôi bạch lên Đức Thầy và Giáo hội chứng minh. Đơn xin cất Tịnh xá, các cấp chính quyền không chấp thuận, họ hứa hẹn và tìm mọi cách không cho thực hiện, vì lúc này đang là thời kỳ Pháp nạn của Phật giáo, “nạn kỳ thị tôn giáo” lớn mạnh.
Tuy chính quyền không cho nhưng thiện tín vẫn tiến hành xây dựng. Mọi người bảo nhau: “Họ đến thì mình không xây nữa, họ đi thì mình làm tiếp tục.” Cứ thế, từ tháng 2 đến tháng 5 năm Nhăm Dần (1962) Tịnh xá được xây xong.
Từ ngày cung thỉnh Giáo đoàn về quê hương thuyết pháp đến ngày thiết lập tịnh xá trọn 3 năm. Giáo hội Khất Sĩ Giáo đoàn III lúc này khoảng trên 20 vị Tăng. Đức Thầy vừa là Thầy của chư Tăng, vừa là Trưởng Giáo đoàn III. Uy lực của Ngài rất lớn, nhiếp phục tất cả các hàng Tăng Sư và thiện tín. Mọi người tìm thấy nơi Ngài một sự thanh thản bình an và lòng từ bi độ lượng. Ngài quả là Bậc Đạo sư vĩ đại, một nơi nương tựa vững chắc cho tứ chúng.
Tịnh xá lúc này xây dựng, cột kèo sườn gỗ, mái lợp tole thiếc, chung quanh tường ghép ván cao 1,2m, bốn mặt trống. Khi có lễ hội lớn, lấy khung ván và cửa ra. Tịnh xá 7 mặt trống, mặt hậu thờ di ảnh Tổ Sư Minh Đăng Quang.
Lễ An Vị Phật được Đức Thầy chứng minh và đặt tên cho ngôi già lam này là: TỊNH XÁ NGỌC HÒA. Lúc này Giáo hội có quy định, 6 tháng thay đổi Tăng một lần, tức là sau Lễ Vu Lan Bồn (16/7 âm lịch) và Lễ Tưởng niệm Tổ Sư Minh Đăng Quang (mùng 1 tháng 2 hằng năm).
Quý Sư hồi ấy, hôm nay không còn mấy vị, có một số ít Sư còn tu hành nhưng không ở trong Hệ phái, tự cất am cốc, tịnh thất để tu nên ít khi gặp được, thật đáng buồn !
Lễ Khánh thành, Tịnh xá lên ngôi
Qua 2 năm kiến tạo Tịnh xá, Lễ An vị Phật được tiến hành. Lúc bấy giờ, nạn kỳ thị tôn giáo gay gắt đến độ xảy ra chiến tranh tôn giáo. Năm 1963, thay chủ, nền Đệ nhị Cộng Hòa được ổn định nhưng mâu thuẫn vẫn còn âm ỉ. Địa phương này xa thành thị nên nạn dị giáo không mạnh và nạn kỳ thị không lớn lắm.
Ngày Rằm tháng Giêng năm Giáp Thìn (1964), thiện tín nhất trí định ngày tổ chức Lễ Khánh thành. Ngày mùng 1 tháng 2, nhân lễ lớn có nhiều Tăng Ni về thuyết pháp, giảng kinh, chư Tăng trụ xứ và Phật tử cùng bạch Đức Thầy và Giáo hội chứng minh cho Tịnh xá Ngọc Hòa được làm Lễ Khánh thành vào ngày 14 tháng 5 năm Giáp Thìn (1964).
Năm này 3 thôn hợp thành một xã, xã Phước Lý còn thuộc huyện Tuy Phước, nên giấy tờ các cấp chính quyền chấp thuận dễ dàng. Hai tháng trước ngày làm lễ, thiện tín lo dọn dẹp vườn tược, cất nhà tạm cho Tăng, Ni, hợp đồng tàu xe để rước 60 vị Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và Phật tử các miền Tịnh xá về chứng minh tham dự lễ.
4 giờ chiều, ngày 13 tháng 5 năm Giáp Thìn, chư Tăng Phật tử bổn xứ cung rước chư tôn đức Tăng Ni và thiện tín các nơi về dự lễ. 7 giờ sáng, ngày 14 lễ chính thức bắt đầu, đọc diễn văn khai mạc, cắt băng Khánh thành, tụng Kinh cầu nguyện - Cúng dâng tịnh xá và Đức Thầy ban đạo từ chứng minh. Ngày rằm, Cúng ngọ - Trai tăng, cầu nguyện quốc thới dân an chúng sanh an lạc.
Ngày 16 tháng 5, Đức Thầy và Giáo đoàn từ giã, thiện tín lưu luyến khôn nguôi. Những ngày tổ chức lễ ở tịnh xá, xóm làng vui như hội. Bây giờ nhớ lại, người viết vẫn còn cảm thấy lâng lâng. Phật pháp thật nhiệm mầu!
(Còn tiếp)
Biên tập lại từ nguồn: phattuvietnam