Ngọc Hòa Ký Sự - Phần 2: Những ngày không quên

Ban TT-TT Hệ phái 26/06/2013, 22:36

 

Đức Thầy - Trưởng Giáo đoàn III (Cố Trưởng lão Giác An) khi đi, Ngài khuyên dạy, dặn dò: “Các con à! Để duy trì Phật Pháp trên cõi nhân gian, muốn Tăng Sư thường lui tới dạy đạo, khuyến tu thì bổn phận cư sĩ tại gia các con phải yểm trợ đạo pháp, phải có bổn phận hộ pháp.

Thời Đức Phật đã có những người cư sĩ hộ pháp, Phật Pháp mới vững mạnh lâu dài. Đức Phật gọi những người làm cho đạo Phật trường tồn là Tứ chúng đệ tử, vì thế phải kham nhẫn chịu đựng vượt qua mọi sự khen chê phải trái. Các con là 2 trong bốn chúng ấy.”

Vâng lời Thầy dạy trước lúc ra đi, đầu tháng 8 năm Kỷ Hợi (1959), ông Võ Thẩn (PD. Thiện Khang) phát tâm ăn chay trường, giữ tám giới, không đi biển, chuyển nghề để chuyên tâm tu học.

Bổn đạo vận động ông bà Trần Trong (PD. Thiện Nhơn) hiến cúng khu vườn nhỏ, ông bà Đặng Điền (PD. Thiện Điều) cũng hiến cúng một mảnh vườn, thiện nam tín nữ khai phá lùm bụi, đất hoang xung quanh cho sạch sẽ.

Tháng 9 sau cơn sóng bão, thiện nam chèo thuyền vớt tre chà trôi dạt để đem về làm cột kèo sườn, tín nữ đi cắt cỏ tranh làm được ngôi nhà dài 6m, rộng 4m, vách đất. Nhà dựng xong, thiện tín thiết lập bàn thờ Phật (tranh ảnh) làm nơi lễ Phật, tụng kinh. Ngoài ra còn cất thêm một ngôi nhà nhỏ làm nhà ăn ở.

Ngày Rằm tháng 10 năm Kỷ Hợi (1959), ông Thiện Khang về đây ở. Từ đó, mỗi tháng 4 ngày (mùng 8,15, 23, 30), bổn đạo về lễ Phật, tụng kinh. Ông Thiện Khang trở thành sám chủ (chủ lễ) hướng dẫn thiện tín tụng niệm. Tôi, Thiện Quang, hướng dẫn phần nghi thức hành lễ.

Chúng tôi cùng nhau tu hành dưới ngôi nhà chung Phật pháp. Cũng từ lúc ấy các tiểu ban hộ pháp tổng quát, tiểu ban hộ niệm, tiểu ban trợ niệm cho người lâm chung được hình thành, giúp đỡ thiện nam tín nữ khi có duyên sự cầu an, cầu siêu, đau bịnh, nghèo đói, tai nạn và chết chóc. Ban hộ pháp làm những việc từ thiện tương trợ lẫn nhau.

Rằm tháng Giêng năm Canh Tý (1960), ông Hồ Thung (PD. Thiện Hiếu) cũng về cất am tranh tu hành. Sau 3 tháng vì bệnh lao nặng nên về nhà và mất năm 1962. Ông là bậc huynh trưởng đầu tiên hướng dẫn thiện tín hiểu biết về Phật Pháp.

Ngày Rằm tháng 10 năm Canh Tý, bà thân tôi là Nguyễn Thị Thiệp (PD. Ngọc Tứ) cũng đi tu về ở nơi đây. Cô Võ Thị Đào (PD. Ngọc Sanh) theo Thầy hộ pháp từ năm Kỷ Hợi (1959), cô về nhà năm 1964, quy Tây ngày 03-11-1965 (Ất Tỵ).

Tháng 3 năm Canh  Tý (1960), thiện tín dựng lập 2 am tranh để Tăng Sư về hành đạo ở và cất ngôi nhà thờ Cửu Huyền Thất Tổ, đến tháng 8 năm này mới hoàn thành. Ngôi nhà tranh dài 6m, rộng 4m nay làm nhà Tăng.

Tháng 5 năm Tân Sửu (1961), thiện tín đào một giếng nước, xuống sâu 17m đụng đá, nước từ chân đá rỉ ra, kêu 3 đoàn thợ đục không vỡ được. Năm 1974 làm lại một lần nữa nhưng vẫn không được.

Tháng 3 năm 1993, lại làm tiếp và lần này đục xuyên đá, xuống thêm 7m vẫn không có nước. Công trình rất tốn kém (tiền công đục mỗi mét đá là 500.000 đồng) cũng không kết quả, chỉ có nước dùng mùa đông.

Ngày nay không dùng giếng này nữa, đào giếng chung từ nơi khác, hệ thống bơm nước đưa về đến nơi và tịnh xá không còn lo thiếu nước.

Từ năm Canh Tý (1960), Đức Thầy chính thức bổ Tăng về trụ, cứ 3 tháng là thay đổi Tăng một lần. Sư về trụ nơi đây đầu tiên là Đại đức Giác Đạt. Đại đức là vị đệ tử lớn của Đức Thầy, được Giáo hội ca ngợi về giới hạnh.

Đại đức về trụ chỉ 3 tháng nhưng đã lưu lại trong lòng mọi người những ấn tượng tốt đẹp về oai nghi tế hạnh, cũng như tính tình thuần hậu của Sư. Cây gạo cạnh nhà khói được Sư đem từ quê hương Vĩnh Lợi (Đề Gi) về trồng.

Nay Sư không còn ở nữa, người đã vĩnh viễn ra đi nhưng cây gạo ấy vẫn còn lưu dấu. Xin vĩnh biệt Sư, một bậc thầy khả kính.

(Còn tiếp)

Biên tập lại từ nguồn: phattuvietnam