Ngọc Hòa Ký Sự - Phần 1: Phật pháp & quê hương

Ban TT-TT Hệ phái 26/06/2013, 12:00

 

Mấy hôm nay trời kéo mây mưa dầm, nước chảy thành dòng mang theo rác rưởi hai bên đường đổ về bãi biển đục ngầu. Mùa này biển còn động lắm, dân xóm chài vẫn chưa đi biển được - nghèo đói và chiến tranh.

Vào khoảng tháng 11 năm Đinh Dậu (1957) tin đồn dưới chân núi Gành Ráng (khu 6 - Quy Nhơn) có một vị Phật sống, đang ngồi trên tảng đá xanh. Dân chúng lũ lượt kéo về đông đúc. Kẻ đến người đi, tìm hiểu hạnh tu hoặc để nghe lời khuyến tu của Ngài. 

 Ông Hồ Thung ở Nhơn Lý cũng đến để tìm hiểu. Sau nhiều ngày quan sát và chất vấn đạo lý, lẽ đời. Ông về khoe với mọi người là mình đã quy y thọ giới rồi, được Ngài cho pháp danh là Thiện Trí Hiếu.

Và ông đưa cho mọi người xem mấy quyển kệ mỏng, bìa màu vàng có tựa đề Phá mê, Chơn lý..., được viết bằng chữ quốc ngữ, dễ đọc, dễ hiểu. Thời này, kinh sách bằng chữ quốc ngữ rất hiếm. Cho nên, ông xem mấy cuốn kệ Pháp này như báu vật. 

Đến tháng Giêng năm Mậu Tuất (1958), tôi (Thiện Quang) cùng Thiện Giác, Thiện Hưng đến Tịnh xá Ngọc Nhơn tại thành phố Quy Nhơn bây giờ, thăm viếng, được quý Sư đón tiếp niềm nở. Tận mắt thấy quý Sư tu hành giới đức trang nghiêm nên chúng tôi vô cùng hài lòng, hoan hỷ.

Ngày Rằm tháng 5 năm Kỷ Hợi (1959), Tịnh xá Ngọc Nhơn xây dựng xong và tổ chức Lễ Khánh thành. Chúng tôi gồm 20 người: Hồ Thung (Thiện Trí Hiếu), Thiện Khang, bà Ngọc Tứ, chủ thuyền Võ Văn Thành (Thiện Kháng), Nguyễn Thứ, Hà Cầu, Huỳnh An Nhơn..., mượn một chiếc thuyền câu háo hức chờ ngày giong buồm về Quy Nhơn dự lễ.

Mười giờ sáng ngày 14 tháng 5 ÂL (1959), thuyền nhổ neo, căng buồm lướt gió ra biển khơi. 2 giờ chiều, thuyền đến Eo Dược (Phước Hải) thì trời nổi giông, trở gió, sấm sét dữ dội, mưa như trút nước. Gió Tây Nam thổi mạnh, nước tràn đầy thuyền, tròng trành sắp đắm.

Ông Võ Thẩn hét to: “Hạ buồm xuống, cuốn lại một nửa,” rồi ông vững tay lái đưa thuyền đi vững vàng vượt qua bão tố. Vật lộn với cơn giông khoảng một giờ đồng hồ, đến 5 giờ chiều thuyền vào cảng Quy Nhơn. 6 giờ tối, chúng tôi có mặt ở Tịnh xá. 

Những năm này, thành phố Quy Nhơn có điện nhưng rất hạn chế. Ngày lễ, quanh Tịnh xá phải dùng thêm đèn măng-xông để thắp sáng. Ánh sáng đèn vàng dịu, ấm cúng, khiến không khí buổi lễ tăng thêm phần trang nghiêm, long trọng. Mọi người đều cảm thấy an lạc. Đến 8 giờ tối, Pháp sư Giác Nhiên lên pháp toà.

Đêm ấy Ngài thuyết bài “Chánh Kiến”. Người nghe pháp rất đông, hồi ấy ai ai cũng thích nghe pháp, nhất là được nghe trả lời những câu hỏi gay cấn… Giọng Pháp sư trầm hùng trên máy phát thanh, thao thao bất tuyệt… giải đáp thông suốt, người nghe thích thú im phăng phắt.

Chúng tôi vui mừng hồi hộp như người đi xa trở về quê nhà, lòng tự nhủ, từ đây mình đã gặp được đạo mầu, có thầy sáng để dựa nương tu hành.

Mười một giờ trưa ngày rằm tháng 5 AAL (1959) Cúng Ngọ - Trai tăng. Khóa lễ gồm thời kinh cầu nguyện của chư Tăng và quý Phật tử, thuyết pháp, cúng Cửu huyền và độ ngọ. Đến 1 giờ, khoá lễ viên mãn. Tịnh xá hồi ấy lợp tole lá, không có cửa ngăn, cũng không có vách, xung quanh trống không rất thoáng mát.

Phật ngự trên bảo tháp trang nghiêm, quý Sư đắp y vàng thanh bần, tĩnh tại và điềm đạm tiếp chuyện với Phật tử thập phương. Thật đẹp và giải thoát! Lúc 3 giờ chiều là khóa lễ Quy Y Thọ Giới. 

Sau một đêm nghe pháp, tôi suy nghĩ và so sánh pháp lý và hạnh tu của quý Sư phù hợp với kinh điển của Đức Phật để lại nên tôi và ba huynh đệ vào bạch xin được quy y. 

Trước bàn Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang, Đức Trưởng lão Giác Tánh ngồi giữa, bên phải là Đức Thầy Giác An, bên trái là Pháp sư Giác Nhiên. Trưởng lão dạy bốn chúng tôi thắp hương đến trước tháp thờ Phật nguyện và đảnh lễ, rồi vào hậu Tổ.

Chúng tôi quỳ và đọc lời phát nguyện theo Đức Trưởng lão: “...Con xin vâng giữ điều học, là cố tránh xa giết các loài…”. Lễ Quy Y bình dị mà thiêng liêng quá! Chúng tôi có linh cảm chư Phật mười phương đều chứng giám cho lòng thành kính và phát nguyện dõng mãnh của chúng tôi. Bốn người chúng tôi được Trưởng lão đặt cho pháp danh: 

-   Thiện Giác (Nguyễn Thứ)

-   Thiện Hưng (Hà Cầu)

-   Thiện Tấn (Huỳnh An Nhơn)

-   Thiện Quang (Nguyễn An Tân)

Sau lễ truyền giới, Pháp sư giảng giải chi tiết ý nghĩa và lợi ích của việc quy y và giữ giới. Chúng tôi đảnh lễ cảm tạ rồi lui ra.

Sáng ngày 16 tháng 5 AAL (1959), chúng tôi vào Tịnh xá đảnh lễ Tam Bảo và đến cốc từ giã quí Sư. Thuyền rời bến Qui Nhơn, trên thuyền chúng tôi nói cười vui vẻ, ca ngợi tán thán hạnh tu của chư Sư, chia sẻ niềm tịnh lạc từ bài pháp mà Pháp sư đã thuyết và thầm nguyện trong lòng phải thỉnh chư Tăng về quê hương thuyết pháp hành đạo một lần. Thuyền cập bến lúc 11 giờ ngày 16.

Ngày 17 tháng 5 ÂL, chúng tôi mời bổn đạo họp tại nhà từ đường bàn thảo việc thỉnh chư Tăng Khất Sĩ về quê hương thuyết pháp, hành đạo. Mọi người trong bổn đạo đều hoan hỷ đóng góp chút công đức để chuẩn bị cho sự kiện thiêng liêng này.

Chúng tôi viết đơn xin thỉnh chư Tăng về thôn Hưng Lương, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước thuyết pháp, nhưng chính quyền ở xã huyện không duyệt. Chúng tôi bèn thưa quí Sư xin trực tiếp trên cấp tỉnh và được tỉnh ký giấy phép cho chư Tăng Khất Sĩ về thuyết pháp tại thôn Hưng Lương trong 3 ngày (19, 20, 21 tháng 5 âl năm 1959).

Biển tháng năm, đầu hạ êm mát, buổi sáng gió Tây Nam, buổi chiều gió Đông Nam. Bốn giờ chiều ngày 19/5, thuyền máy chở quí Sư về đến bến. Lần đầu tiên nhìn thấy người đến ăn mặc khác lạ, mọi người lũ lượt kéo xuống bờ biển xem đông nghẹt.

Phật tử chúng tôi cung thỉnh chư Tăng về nhà từ đường cụ Phụng. Ông Võ Cưu (PD. Tâm Trường) che rạp nơi sân rộng và lót ván làm sàn để chư Tăng tạm nghỉ. Trong đoàn chư Tăng gồm có Đức Thầy Giác An (Cố Trưởng Đoàn III - Hệ phái Khất Sĩ Việt Nam), Đức Thầy Giác Tịnh và 18 vị Sư khác.

Bảy giờ tối, trăng nhô lên khỏi mặt biển. Biển nước mênh mông, gió mát, sóng êm, từng lượn sóng nhỏ lăn tăn chạy dài trên mặt nước như muôn ngàn con rồng vàng đang đùa giỡn dưới ánh trăng… Vài chiếc thuyền câu bồng bềnh trên biển dưới ánh trăng vàng thật đẹp. 

Lần đầu tiên nghe Sư áo vàng thuyết pháp, mọi người đều thấy khác lạ. Nhiều người sau khi nghe pháp, tâm trí sáng ra, không ngớt lời tán thán. Cũng có người chê bai gièm pha vì lòng ganh ghét, tật đố. Thói thường của người đời là vậy! Thật ra, dù Đức Phật Di Lặc chuyển thế độ sinh cũng sẽ có kẻ miệt thị, khen chê.

Vì thế các bậc Bồ-tát vì lòng từ bi đi vào đời độ chúng sinh đều phải kham nhẫn. Kham nhẫn hoá độ và kham nhẫn gánh chịu mọi khổ nạn của chúng sanh. Những bậc tu chân chính đều phải lập hạnh kiên trì nhẫn nhục vượt qua mọi điều thử thách, khen chê, tốt xấu.

Đêm đầu tiên (19/5/1959 ÂL), Sư Giác Tôn thuyết pháp. Sư còn trẻ, tính tình rất từ tốn điềm đạm, trả lời những chất vấn của mọi người rất rõ ràng khúc chiết. 

-  Có người hỏi: Thượng đế, Chúa Trời là tối thượng có đúng không?

- Sư hỏi lại: Thượng Đế ai sinh ra?

-  Thượng Đế tự có, mọi người đáp.

-  Sự nói: Hiện tại người ta chỉ thấy cái này nương cái kia, cái kia nương cái nọ mà có, mà tồn tại... Chúng ta không thấy vật nào sinh ra và tồn tại một cách độc lập cả. Bởi lẽ, các bậc Thánh nhân cũng là con người có cha và có mẹ. 

Ba đêm thuyết pháp, người thính pháp rất đông. Quý Sư ân cần giải đáp các câu hỏi hợp với căn cơ trình độ của từng người. Vì đạo là con đường, đã là đường thì có lớn nhỏ, có rộng hẹp, có ngay cong... nhưng mỗi con đường đều để đi và hướng dẫn đến đích cần đến. 

Ba ngày hành đạo, thuyết pháp qua nhanh. Ngày 22/5/1959 ÂL, giáo đoàn đi hành đạo nơi khác. Số thiện nam tín nữ quy y thọ giới trên 200 người.

(Còn tiếp)

Biên tập lại từ nguồn: phattuvietnam